Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Chương 3: Phân tích NLCT của cụm ngành du lịch tỉnh Kiên Giang Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Hiện nay có rất nhiều lý thuyết giải thích về NLCT, nhưng khái niệm có ý nghĩa duy nhất về NLCT ở cấp độ quốc gia hay địa phương là năng suất. Năng suất là nhân tố quyết định của mức sống dài hạn của một quốc gia, và là nguyên nhân sâu sa của thu nhập quốc gia bình quân đầu người (Porter, 2008, tr. NLCT của một quốc gia hay một địa phương được đo lường bằng năng suất sử dụng lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên. Theo Porter, có ba nhóm nhân tố quyết định NLCT của một quốc gia, bao gồm: (i) các yếu tố lợi thế tự nhiên của quốc gia, (ii) NLCT vĩ mô, và (iii) NLCT vi mô.
Vì đối tượng nghiên cứu của Luận văn là tỉnh Kiên Giang nên khung khổ lý thuyết được điều chỉnh theo khuôn khổ phân tích NLCT ở cấp độ địa phương của Vũ Thành Tự Anh.1: Các nhân tố quyết định NLCT của địa phương Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp Môi trường kinh doanh Trình độ phát triển Hoạt động và chiến lược cụm ngành của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương Hạ tầng văn hóa, xã Hạ tầng kỹ thuật (giao thông, Chính sách tài khóa, tín hội, y tế, giáo dục điện, nước, viễn thông) dụng và cơ cấu kinh tế Các yếu tố sẵn có của địa phương Tài nguyên thiên nhiên Vị trí địa lý Quy mô địa phương Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2011) Các nhân tố nền tảng quyết định năng suất của địa phương được chia thành ba nhóm chính. Nhóm thứ nhất là “Các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương”, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, hay quy mô của địa phương. Những nhân tố này không chỉ đề cập đến số lượng mà còn bao gồm cả chất lượng, khả năng sử dụng, chi phí đất đai, điều kiện khí hậu, nguồn khoáng sản, địa thế vùng. Nhóm nhân tố thứ hai là “Năng lực cạnh tranh ở cấp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 độ địa phương”, bao gồm các nhân tố cấu thành nên môi trường hoạt động của doanh nghiệp: (i) chất lượng của hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế; và (ii) các thể chế chính sách kinh tế như chính sách tài khóa, tín dụng và cơ cấu kinh tế.
Nhóm thứ ba là “Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp”, bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành và chiến lược của doanh nghiệp.2 Lý thuyết về cụm ngành Trong nhóm nhân tố thứ ba, chất lượng môi trường kinh doanh có tác động trực tiếp đến năng suất mà các doanh nghiệp dựa vào để cạnh tranh ở một địa điểm. Theo Porter (2008), chất lượng của môi trường kinh doanh thường được đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát, đó là: (i) các điều kiện nhân tố sản xuất; (ii) các điều kiện nhu cầu; (iii) các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan; (iv) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp. Những nhân tố này tạo nên bốn góc của một hình thoi và được gọi là Mô hình Kim cương Porter. Ngoài ra cần phải nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, trong việc định hình nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh nhằm hướng đến việc cải thiện năng suất (Hình 2.
Trong bốn góc của hình thoi trên, nhân tố ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan hay còn gọi là cụm ngành, nhân tố quan trọng trong việc quyết định chất lượng môi trường kinh doanh, và là tác nhân kích thích mạnh mẽ cho việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh. Việc nhìn một nhóm các công ty và tổ chức như một cụm ngành sẽ tạo ra một diễn đàn mang tính xây dựng và hiệu quả để các công ty liên quan, các nhà cung ứng, chính phủ, và những tổ chức quan trọng khác đối thoại với nhau. Cụm ngành tạo thành một mặt của hình thoi lợi thế cạnh tranh, nhưng đúng nhất chúng phải được xem như thể hiện các mối tương tác giữa bốn mặt với nhau. Cụm ngành tác động lên cạnh tranh theo ba cách khái quát: thứ nhất, tăng năng suất của các doanh nghiệp hay ngành trong đó; thứ hai, tăng năng lực đổi mới của các doanh nghiệp và qua đó làm tăng năng suất; thứ ba, thúc đẩy việc hình thành doanh nghiệp mới nhằm hổ trợ sự đổi mới và mở rộng cụm ngành.
Vì đề tài nghiên cứu về cụm ngành du lịch nên cơ sở lý thuyết sử dụng chủ yếu là mô hình kim cương. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Mô hình Kim cương Porter Chính sách kinh tế, thị trường (hàng hóa, tài chính), trợ cấp, giáo dục, định hình nhu cầu, thiết lập các tiêu chuẩn Các quy định và động lực khuyến khích đầu Vai trò tư và năng suất; độ mở và mức độ của cạnh chính phủ tranh trong nước Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh Các điều kiện Các điều kiện nhân tố sản xuất nhu cầu Ngành công Mức độ đòi hỏi và khắt Tiếp cận các yếu tố nghiệp phụ trợ và khe của khách hàng và đầu vào chất lượng liên quan nhu cầu nội địa cao Sự có mặt của các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hỗ trợ Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2011) Ngoài ra, nghiên cứu Điểm đến cạnh tranh: Định nghĩa và các chỉ tiêu 1 của Dwyer và Kim (2003) đã chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến NLCT của điểm đến, đặc biệt trong ngành du lịch, như tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân tạo, các yếu tố hỗ trợ (cơ sở hạ tầng (CSHT), chất lượng dịch vụ,…), vấn đề quản lý, tình hình vĩ mô, yếu tố cầu, và những chỉ tiêu về thị trường. Nghiên cứu này được tác giả tham khảo để xây dựng câu hỏi phỏng vấn khách du lịch. 1 Destination competitiveness: Determinants and Indicators TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Du lịch thiên nhiên và du lịch sinh thái Trong những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu về các loại hình du lịch kết hợp với quản lý tài nguyên thiên nhiên như du lịch bền vững, du lịch thiên nhiên (DLTN), du lịch sinh thái.
Những hình thức du lịch này được xem như một sự phát trển kinh tế đảm bảo an toàn cơ bản cho môi trường. Ngoài đặc điểm dựa vào môi trường thiên nhiên, nhấn mạnh vào việc mang lại trải nghiệm và kiến thức thực tế cho khách du lịch, điểm khác biệt quan trọng nhất của DLST so với các hình thức DLTN khác là nó hoạt động trong mối quan hệ phát triển bền vững giữa môi trường, kinh tế và văn hóa- xã hội (Weaver, 2002, tr. DLTN chỉ xuất phát từ những khu vực thiên nhiên sẵn có mà không có một sự quan tâm cụ thể nào về việc bảo vệ chúng, trong khi DLST không chỉ đơn giản là tận hưởng cảnh quan thiên nhiên, mà nó phải thay đổi thái độ và hành vi của khách du lịch trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (Orams, 1995 trích trong Kline, 2001, tr.3: Mối quan hệ giữa DLST và các hình thức du lịch khác Du lịch dã ngoại (Wildlife tourism)- trong khu du lịch hoặc trong rừng. Tham quan hoặc có tiếp xúc với động vật hoang dã.
Có thể bao gồm một phần của du lịch thám hiểm và du lịch Du lịch thiên nhiên sinh thái (Natural Area Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism) Tourism)- nhấn mạnh vào các hoạt Du lịch sinh thái - hình thức du lịch dựa động thám hiểm, có thể xảy ra trong (Ecotourism)- dựa vào vào thiên nhiên một môi trường thiên nhiên thiên nhiên, giáo dục và hỗ trợ bảo tồn thiên nhiên Nguồn: Gale và Hill, Ecotourism and Environmental sustainability: An Introduction (2009, tr.5) Theo UNEP (2002, tr. 10), những yếu tố tạo thành DLST bao gồm: (i) sự đa dạng sinh học; (ii) sự thân thiện của người dân địa phương; (iii) sự học tập từ trải nghiệm; (iv) sự hành động có trách nhiệm của du khách và ngành du lịch; (v) khách hàng mục tiêu là các nhóm nhỏ và dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp quy mô nhỏ; (vi) sự sử dụng tối thiểu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 các nguồn tài nguyên không tái chế được; và (vii) nhấn mạnh sự tham gia, cơ hội kinh doanh của những người địa phương, đặc biệt là người dân ở vùng nông thôn. DLST tạo việc làm trong nước và các cơ hội kinh tế cho người dân địa phương, nhưng nếu không theo dõi cẩn thận, và vì mục tiêu lợi nhuận, quốc gia sẽ phát triển lệch hướng với những dự án quy mô lớn để thu hút và phục vụ lượng du khách lớn. Ngoài ra, nếu các dự án phát triển độc quyền bởi các doanh nghiệp nước ngoài vì lợi ích ngắn hạn, cả môi trường và nhân dân địa phương có thể phải trả giá (Garen, 2000 trích trong Dasenbrock, 2001) (Xem phụ lục 2.4 Tổng quan kinh nghiệm phát triển DLST 2.1 Kinh nghiệm của Costa Rica trong phát triển DLST Trong khi nhiều quốc gia đang tập trung vào công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, Costa Rica đã đầu tư phát triển DLST như là chìa khóa để phát triển kinh tế từ những năm 1980 (Koens, Dieperink vàMiranda, 2009).
Năm 2008, ngành du lịch và lữ hành đóng góp cho đất nước Trung Mỹ này 3.77 tỉ USD, chiếm 13. Ngành DLST của Costa Rica được hưởng lợi nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía chính phủ, sự giúp sức của các cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn và phát triển hệ sinh thái. Cụ thể, sự thành công của ngành DLST Costa Rica có được nhờ các yếu tố sau: - Đa dạng sinh thái: Costa Rica có sự đa dạng sinh học đáng kinh ngạc nằm trong một khu vực tương đối nhỏ, bao gồm núi, núi lửa, các bãi biển và rừng nhiệt đới. Hệ động thực vật đa dạng được bảo vệ trong 24 công viên quốc gia, chiếm 21% lãnh thổ của đất nước.
- Vị trí: tiếp giáp với Hoa Kỳ, nhà xuất khẩu du lịch số 1 thế giới. Hàng năm Hoa Kỳ đóng góp gần 50% du khách nước ngoài tới Costa Rica. - An toàn và tính ổn định: Costa Rica vẫn đảm bảo là một địa điểm du lịch an toàn, dù tình trạng hỗn loạn liên tục xảy ra ở nước láng giềng.