CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN QUẢN LÝ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1.Hoạt động thẩm định dự án vay vốn cho đầu tư phát triểncủa Ngân hàng Thương mại 1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng 2010: “ Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác”. Từ những khái niệm trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi và cho vay.
Tuy nhiên hiện nay, hệ thống ngân hàng đã phát triển mạnh và tham gia Luan van 7 vào hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội. Sự đa dạng và phong phú về các nghiệp vụ kinh doanh làm cho NHTM trở thành tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát tiển đất nước. - Hoạt động cho vay vốn: NHTM huy động vốn qua các hình thức sau: + Nhận tiền gửi của tổ chức, các nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác nhau; + Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn từ các tổ chức, các cá nhân từ trong và ngoài nước; + Vay vốn của tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức nước ngoài; + Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước; + Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước. - Hoạt động tín dụng: Đây là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập cơ bản cho ngân hàng.
Bao gồm: + Cho vay ngắn hạn; + Cho vay trung và dài hạn; + Bảo lãnh: khách hàng được NHTM bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các hình thức bảo lãnh khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh; + Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn đối với tổ chức, cá nhân và có thể chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn từ các tổ chức tín dụng khác; + Cho thuê tài chính. - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm: + Mở tài khoản giao dịch cho khách hàng là pháp nhân hay thể nhân trong Luan van 8 và ngoài nước; + Cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: Séc, ủy nhiệm chi, thẻ ATM,.; + Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế: séc, ủy nhiệm chi, chuyển tiền,.; + Thực hiện các nghiệp vụ thu, chi hộ; + Thực hiện các nghiệp vụ ngân quỹ: thu phát tiền mặt, kiểm đếm, phân loại, bảo quản và vận chuyển tiền mặt; + Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng; - Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật và Ngân hàng nhà nước. Công tác thẩm định dự án vay vốn cho đầu tư phát triển tại Ngân hàng Thương mại 1.Khái niệm thẩm định dự án đầu tư Các dự án đầu tư khi được soạn xong dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ càng thì chỉ mới qua bước khởi đầu. Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được thực hiện hay không phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập và tách biệt với quá trình soạn thảo dự án.
Quá trình đó gọi là thẩm định dự án. Vậy thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng tới công cuộc đầu tư để ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư. Xét trên phương diện vĩ mô, để đảm bảo được tính thống nhất trong hoạt động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, góp phần tạo ra một năng lực tăng trưởng mạnh mẽ, đồng thời tránh được những thiệt hại và rủi ro không đáng có thì cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong lĩnh vực Đầu tư. Thẩm định DAĐT chính là một công cụ hay nói cách khác đó là một phương thức hữu hiệu giúp Nhà nước có Luan van 9 thể thực hiện được chức năng quản lý vĩ mô của mình.
Công tác thẩm định sẽ được tiến hành thông qua một số cơ quan chức năng thay mặt Nhà nước để thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Cũng như Ủy ban nhân dân các Tỉnh - Thành phố, các Bộ quản lý ngành khác. Qua việc phân tích các DAĐT một cách hết sức toàn diện, khoa học và sâu sắc các cơ quan chức năng này sẽ có được những kết luận chính xác và rất cần thiết để tham mưu cho Nhà nước trong việc hoạch định chủ trương đầu tư, định hướng đầu tư và ra quyết định đầu tư đối với dự án. Trong thực tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thẩm định dự án, các DAĐT được chia ra làm một số loại cụ thể.
Trên cơ sở phân loại này, sẽ có sự phân cấp trách nhiệm trong khâu thẩm định và xét duyệt các DAĐT đảm bảo được tính chính xác và nhanh chóng trong phê duyệt dự án. Hiện nay, công tác quản lý trong lĩnh vực đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được thực hiện theo “Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng“ ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ. Khái niệm dự án vay vốn cho đầu tư phát triển. Có nhiều loại đầu tư khác nhau.
Nếu căn cứ vào phương thức đầu tư, có ba loại đầu tư là đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư sản xuất. Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư, có hai loại đầu tư là đầu tư phát triển, đầu tư chuyển dịch. Căn cứ vào thời gian đầu tư, có đầu tư dài hạn và đầu tư ngắn hạn,. Đầu tư tài chính là loại đầu tư, trong đó, người đầu tư bỏ tiền cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất.Chẳng hạn, gửi tiết kiệm, mua trái phiếu Chính phủ, mua cổ phiếu hoặc trái phiếu công ty là những dạng đầu tư tài chính.Đánh bạc, đánh đề.cũng là một hình thức đầu tư tài chính nhưng không được pháp luật cho phép.Tiền và các giấy tờ có giá này gọi là tài sản tài chính.
Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Đầu tư thương mại là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu Luan van 10 không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư¬ và người đầu tư với khách hàng của họ. Đầu tư sản xuất là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền mua máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, nhà xưởng, thuê lao động,.
để tiến hành các hoạt động sản xuất nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác. Đầu tư sản xuất là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đầu tư sản xuất còn bao gồm hoạt động, trong đó nhà đầu tư bỏ tiền ra xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ, thực hiện duy tu bảo dưỡng các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội. Đầu tư dài hạn là đầu tư diễn ra trong khoảng thời gian từ 10 năm trở lên, thường có quy mô lớn.
Đầu tư dài hạn thường là hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất lâu dài cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đầu tư ngắn hạn là đầu tư trong khoảng dưới 10 năm. Đầu tư ngắn hạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty trong từng thời kỳ ngắn. Đây là cách mà nhà đầu tư (cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước) có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài hạn.
Thông qua đầu tư ngắn hạn, nhà đầu tư có thể thích ứng nhanh hơn, có đối sách tốt hơn, phản ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường, của nền kinh tế. Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư làm cho tài sản được dịch chuyển từ người này sang người khác trong nền kinh tế, nhưng không làm tăng tài sản hay tiềm lực sản xuất cho nền kinh tế.