CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Khái niệm về dự án đầu tư - Dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ: + Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. + Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến và các chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm cụ thể để tạo mới, để mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Như vậy một dự án đầu tư bao gồm bốn đặc trưng chính sau đây: + Mục tiêu của dự án: đó là những lợi ích tài chính và kinh tế xã hội dự kiến sẽ thu được nếu dự án được thực hiện. Tùy theo góc độ nghiên cứu, các mục tiêu này có các nội dung khác nhau. + Các kết quả: là những sản phẩm, dịch vụ được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu của dự án. Ví dụ, để đạt được mục tiêu lợi nhuận doanh nghiệp phải tạo ra các sản phẩm tiêu thụ trên thị trường.
+ Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này, cùng với một tiến độ thực hiện và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận có liên quan, sẽ tạo thành kế hoạch hành động của dự án. + Các nguồn lực bao gồm: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động trên. Giá trị của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết cho dự án.
Chu kỳ của dự án đầu tư Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt ` 4 hoạt động. Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư. - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư : Giai đoạn này cần giải quyết các công việc như nghiên cứu sự cần thiết đầu tư và qui mô đầu tư. Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nguồn tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng : lập dự án đầu tư, gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư. Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản quyết định đầu tư nếu đây là đầu tư của Nhà nước hoặc văn bản giấy phép đầu tư nếu đây là của các thành phần kinh tế khác. - Giai đoạn thực hiện đầu tư : Giai đoạn này gồm các công việc như xin giao đất hoặc thuê đất. Xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu dự án có khai thác tài nguyên).
Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng. Mua sắm thiết bị công nghệ, thực hiện việc khảo sát thiết kế xây dựng. Thực hiện phê duyệt thiết kế, tổng dự toán, dự toán công trình ; Tiến hành thi công xây lắp ; Kiểm tra thực hiện các hợp đồng ; Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng ; Vận hành thử, nghiệm thu quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm. - Giai đoạn kết thúc đầu tư : Giai đoạn này gồm các công việc như nghiệm thu, bàn giao công trình.
Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình, vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình ; Bảo hành công trình, quyết toán vốn đầu tư, phê duyệt quyết toán. Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân liên tục và nhanh chóng, quy mô hoạt động xây dựng ngày càng mở rộng, tính xã hội ngành xây dựng ` 5 ngày càng cao. Ngành xây dựng thực sự góp phần tạo nên dáng vóc mới của đất nước với các công trình thủy lợi giao thông hiện đại, các công trình công nghiệp như điện, dầu khí và nhiều công trình cao tầng trong đô thị đạt tiêu chuẩn quốc tế. Những công trình có vốn đầu tư nước ngoài hoặc từ các nguồn vốn vay của IMF, WB, ADB hay vốn ODA đã và đang được thực hiện ở Việt Nam.
Để được tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn này, ngành xây dựng đã có những thay đổi theo hướng tích cực, phù hợp với cơ chế quản lý mang tính thị trường và các quy định của Quốc tế. Các chủ đầu tư thấy được giá trị của tài sản mà họ quản lý cho nên họ phải có trách nhiệm rất lớn từ khi hình thành đến quá trình thực hiện dự án, từ khâu chất lượng đến tiến độ thi công, nhằm xây dựng được các công trình có chất lượng tốt, thời gian xây dựng ngắn và chi phí đúng theo dự kiến. Tuy nhiên cùng với sự gia tăng về kỹ thuật của nhiều dự án tầm cỡ và tổ chức xây dựng, mức độ phức tạp về kỹ thuật của những dự án này cũng gia tăng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng thì chúng ta cũng lộ ra sự yếu kém về trình độ quản lý, tổ chức và xây dựng, có nhiều kẽ hở trong công tác quản lý các công trình xây dựng, chưa phù hợp với sự phát triển của công nghệ xây dựng.
Để khắc phục tình trạng này, chúng ta đã có những thay đổi trong lĩnh vực pháp luật, đổi mới nhận thức trong việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Sự đổi mới này được thể hiện trong các nội dung của điều lệ QLĐT và XD 177/CP (1994) rồi đến Quy chế QLĐT XD 52/CP (1999) được sửa đổi, bổ sung trong nghị định 12/2000/NĐ-CP và mới đây nhà nước ta đã ban hành bộ Luật xây dựng năm 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014, Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015, Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 03 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;cùng các văn bản hướng dẫn của các bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Xây Dựng, Tài Chính, Quỹ Hỗ Trợ Đầu Tư. Có thể nói đây là sự vận dụng tích cực đường lối đổi mới của Đảng và những phương pháp quản lý tiên tiến quốc tế, khu vực trong lĩnh vực Đầu Tư và Xây Dựng vào thực tế của nước ta. ` 6 Việc chấp hành trình tự đầu tư và xây dựng trong công tác QLĐTXD đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong các khâu: Lập- thẩm định dự án và quyết định đầu tư; Lập-thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán căn cứ quan trọng để giao thầu hoặc tổ chức đấu thầu.
Thể hiện qua chất lượng hồ sơ dự án, hồ sơ thiết kế có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên tồn tại chủ yếu trong lĩnh vự này là: chất lượng hồ sơ dự án (bao gồm các báo cáo đầu tư, dự án đầu tư xây dựng công trình), chất lượng, hồ sơ thiết kế và dự toán, hồ sơ đấu thầu nói chung còn thấp so với yêu cầu quản lý, đặc biệt so với trình độ trong khu vực và quốc tế còn có khoảng cách khá xa. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do sự phát triển của các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng nhanh hơn nhiều về số lượng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng. Đặc biệt, tư vấn lập dự án phần lớn thiếu cả kiến thức lẫn kinh nghiệm, cũng như thiếu những dữ liệu về kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên, địa chất công trình, dự báo nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, vùng nguyên liệu cung cấp cho quá trình xây dựng… dẫn đến tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng rất thấp và kém hiệu quả.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả dự án đầu tư xây dựng 1. Điều kiện tự nhiên Quá trình xây dựng thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu. Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà nó cho phép khai thác các kiến trúc phù hợp với điều kiện thực tế. Khả năng huy động và sử dụng vốn hiệu quả dự án đầu tư xây dựng.
Vốn là yếu tố vật chất quan trọng trong các yếu tố tác động đến tăng trưởng. Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất , muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GDP theo dự kiến thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn và các yếu tố khác. Trong nền kinh tế thị trường. vốn là một hàng hoá “đặc biệt “, mà đã là hàng hoá thì tât yếu phải vận động theo một quy luật chung là lượng cầu vốn thường lớn hơn lượng cung về vốn.
Do đó, muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để thoả mãn như cầu về vốn trong nền kinh tế. Huy động được nhưng ` 7 cần xây dựng các phương án sử dụng vốn đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí. Công tác kế hoạch hoá và chủ trương của dự án Công tác kế hoạch hoá vừa là nội dung vừa là công cụ để quản lý hoạt động đầu tư xây dựng. Trong nền kinh tế thị trường công tác kế hoạch hoá có vai trò rất quan trọng.
Nếu buông lỏng công tác kế hoạch hoá thì thị thường sẽ phát triển tự do, thiếu định hướng gây ra những tác động tiêu cực, tác động xấu đến nền kinh tế.