CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vị trí địa lý, địa hình tỉnh Trà Vinh Tỉnh Trà Vinh nằm trong tọa độ địa lý giới hạn từ: 9 o31’46’’ đến 10o04’5” vĩ độ Bắc và 105o57’16” đến 106o36’04” kinh độ Đông; Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; Đông giáp sông Cổ Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre; Tây giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Sóc Trăng; Nam và Đông Nam giáp biển với chiều dài hơn 65 km. Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên quốc lộ 53, cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Ở địa thế nằm kẹp giữa hai con sông lớn: sông Hậu và sông Cổ Chiên, có hai cửa sông Cung Hầu và Định An - hai cửa sông quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, thông với biển Đông, Trà Vinh có vị trí quan trọng về kinh tế cũng như quốc phòng thông qua các con sông và cửa sông, Trà Vinh có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh bằng đường thủy.
Việc giao lưu theo đường bộ chủ yếu diễn ra trên tuyến quốc lộ 53 nối liền với tỉnh Vĩnh Long; hai tuyến quốc lộ 54 và 60 nối Trà Vinh với Sóc Trăng và Bến Tre bị chặn lại bởi hai dòng sông lớn, gây nên nhiều khó khăn, trở ngại. Nên năm 2018 được nhà nước xây dựng cầu Cổ Chiên qua sông Cổ Chiên, viê êc lưu thông trên quốc lộ 60 đã rút ngắn khoảng cách giữa Trà Vinh và thành phố Hồ Chí Minh thông qua tỉnh Bến Tre. Địa hình Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển, chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát. Càng về phía biển, các giồng cát càng cao và rộng lớn.
Do sự chia cắt bởi các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Nhìn chung, độ cao địa hình phổ biến từ 0,4 - 1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên. Khu vực 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phía Bắc địa hình bằng phẳng hơn phía Nam.
Địa hình cao nhất trên 4m, gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải). Địa hình thấp nhất dưới 0,4 m, tập trung tại các cánh đồng trũng xã Tập Sơn, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên (Trà Cú); Thanh Mỹ (Châu Thành); Mỹ Hoà, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải). Địa hình phức tạp của tỉnh Trà Vinh đã hình thành nên 1 nền sản xuất đa dạng và phong phú như: màu, lương thực, thực phẩm, cây ăn trái phát triển trên các giồng cát. Cây lúa chiếm ưu thế ở các vùng trung bình - thấp, một số vùng trũng ven sông có thể nuôi tôm tự nhiên.
Sự phân cắt của các giồng cát đã làm cho việc thực hiện các công trình dẫn ngọt khó khăn cũng như tập trung nước mưa nhanh gây ngập úng cho các vùng trũng kẹp giữa giồng. Nhìn chung, địa hình thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp từ: 0,6 – 1,0m. Cao trình này thích hợp cho việc tưới tiêu tự chảy, ít bị hạn cũng như không bị ngập úng. Riêng đối với rừng ở Duyên Hải cao trình 0,4 – 1,0m là dạng địa hình thích hợp cho sự phát triển của hầu hết các loại cây rừng ngập mặn có giá trị như: đước, lá, mắm… Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01-01-2008, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Trà Vinh là 229.
Đất đai được chia thành các nhóm chính như sau: - Đất cát giồng: phân bố tại các giồng cát hình cánh cung chạy dài song song với bờ biển, thuộc địa bàn các huyện Trà Cú, Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành. Độ cao địa hình từ 1,4 – 2,0m. Loại đất này thích hợp trồng cây ăn trái và hoa màu. - Đất phù sa: chia thành các loại sau: + Đất phù sa phát triển ở chân giồng cát phân bố chủ yếu ở Trà Cú, Duyên Hải, Châu Thành.
Đất này hình thành ở địa hình cao từ 0,8 - 1,2 m, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không bị ngập nước do triều. Loại đất này đang được sử dụng trồng hoa màu với cơ cấu 2 - 3 vụ/năm hoặc luân canh lúa - màu. Tuy nhiên, năng suất và mùa vụ chưa ổn định. + Đất phù sa không nhiễm mặn phân bố chủ yếu ở Cầu Kè, Càng Long, một phần nhỏ phân bố ở Tiểu Cần, Châu Thành.
Đất có độ cao từ 0,6 - 1,2 m, chủ yếu trồng lúa 2 - 3 vụ/năm, một số diện tích có thể trồng cây ăn trái hay hoa màu. + Đất phù sa nhiễm mặn ít nằm trong vòng cung mặn, nước kênh rạch bị nhiễm mặn 2 - 5 tháng. Loại đất này phân bố tập trung tại Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Ngang; một phần nhỏ phân bố ở Cầu Kè, Châu Thành. Độ cao từ 0,6 - 1,2m nên hầu như không bị ngập úng.
Đất thích hợp trồng lúa 2 vụ/năm hay 1 vụ lúa 1 vụ màu. Đất này cũng thích hợp để trồng mía. + Đất phù sa nhiễm mặn trung bình có nguồn nước bị nhiễm mặn từ 6 - 8 tháng phân bố tập trung ở Cầu Ngang, Duyên Hải và một ít ở Trà Cú, Châu Thành. Đất thấp nên thường bị ngập khi triều cường hoặc ngập theo mùa.
Điều kiện canh tác khá hạn chế, chỉ trồng lúa 1 vụ vào mùa mưa và kết hợp nuôi trồng thủy sản. + Đất phù sa nhiễm mặn nhiều: tập trung ở Duyên Hải, thời gian mặn trên 8 tháng, độ mặn 100/00. Đất này sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, khoanh nuôi bảo vệ rừng và làm muối. - Đất phèn gồm có các loại: + Đất phèn không nhiễm mặn: phân bố ở Càng Long, Cầu Kè.
Địa thế cao, không bị ngập lũ, có thể cải tạo để trồng lúa. + Đất phèn nhiễm mặn ít: tập trung ở Châu Thành, Cầu Ngang, có thể cải tạo để trồng lúa. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Đất phèn nhiễm mặn trung bình: phân bố ở Châu Thành, Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú. Địa hình khá cao, từ 0,6 - 1,2m, không thể ngập lũ.
Người dân ở đây có thể canh tác bằng cách trồng lúa mùa, nuôi thủy sản. + Đất phèn nhiễm mặn nhiều, tập trung ở Duyên Hải. Đất nhiễm mặn quanh năm do ảnh hưởng của biển, chỉ thích hợp trồng rừng ngập mặn. Nhìn chung, đất đai ở Trà Vinh có đến 56% diện tích nhiễm mặn và 27% diện tích nhiễm phèn.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tỉnh phải thực hiện nhiều dự án cải tạo đất nhằm rửa phèn, rửa mặn. Dự án thủy lợi Nam Mang Thít (Nam Măng Thít) là một trong những công trình trọng điểm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư trên địa bàn hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Mục tiêu của dự án là nhằm kiểm soát mặn, lấy nước và giữ nước ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn cho gần 171.626 ha đất canh tác và 225.628 ha đất tự nhiên, đồng thời có nhiệm vụ cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng, kết hợp khai thác nguồn lợi thủy sản, phát triển giao thông, cải tạo môi trường. Điều kiện khí hậu và thủy văn Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như: gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít.
Một năm có hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. - Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,9 oC, trung bình tất cả các tháng trong năm đều có nhiệt độ trên 25 oC nhiệt độ cao nhất vào tháng 5, thấp nhất vào tháng 1. - Tổng số giờ nắng trung bình năm trên 2500 giờ, cao nhất vào tháng 3 và thấp nhất vào tháng 6 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Độ ẩm trung bình năm phổ biến từ 83 - 85%, độ ẩm có xu thế biến đổi theo mùa; mùa khô từ 79 đến 81%, mùa mưa từ 85 đến 88%. - Gió: một năm có hai mùa gió.
Gió mùa Tây Nam hoạt động từ tháng 5 - 10, gió thổi từ Biển Tây vào mang nhiều hơi nước gây ra mưa. Gió mùa Đông Bắc hoặc Đông Nam (gió chướng) hoạt động từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau có hướng song song với các cửa sông lớn. Gió chướng là nguyên nhân khiến cho nước biển dâng cao và đẩy mặn truyền sâu vào nội đồng. Vận tốc gió đạt cao nhất từ 5 - 8 m/s (chủ yếu trong tháng 2, 3) và thường mạnh vào buổi chiều.
Sự xuất hiện các đỉnh mặn do gió chướng tác động đã làm cho việc sản xuất không ổn định trong thời gian này. - Bốc hơi: tổng lượng bốc hơi toàn tỉnh cao, bình quân 876. Vào mùa khô, lượng bốc hơi rất mạnh từ 95 - trên 100 mm/tháng, nhất là các vùng giồng cát cao và khu vực sát biển, gây ra sự khô hạn gay gắt ở các vùng này. Riêng huyện Duyên Hải, lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa năm đã gây ra sự mao dẫn muối lên và tập trung ở tầng mặt làm cho lý tính đất trở nên xấu và khó sử dụng hơn.
- Mưa: tổng lượng mưa trung bình năm trên 1600 mm, phân bố không ổn định và phân hoá mạnh theo thời gian và không gian. Về thời gian, trên 90% lượng mưa của năm tập trung vào mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Về không gian, lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải; ở các huyện gần biển, mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm. - Hạn: hàng năm thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 - 18 ngày.
Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm thuỷ văn Hai con sông chính là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền) và sông Hậu. Đây là nguồn cung cấp nước trực tiếp cho toàn bộ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của tỉnh. - Sông Hậu chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam, đoạn qua địa phâ ên tỉnh Trà Vinh có chiều dài 55 km.
Sông đổ ra biển theo cửa Định An. Lưu lượng nước bình quân 2. Hàm lượng phù sa là 200 - 600 g/m3.