Chương 1: Khái lược về người ké chuyện và hành trình truyện ngắn viết cho thiếu nhỉ của nhà văn Phong Thu. Chương 2: Các dạng thức người ké và điểm nhìn của người ké trong truyện ngắn viết cho thiếu nhỉ của nhà văn Phong Thu. Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu ké chuyện trong truyện ngắn viết cho thiếu nhỉ của nhà văn Phong Thu. 12 CHUONG 1: KHÁI LƯỢC VE NGƯỜI KE CHUYEN VÀ HANH TRÌNH TRUYEN NGAN VIET CHO THIEU NHI CUA NHA VAN PHONG THU Trong lý thuyết tự sự học, van đề người ké chuyện có thé xem là van dé then chốt và cho đến nay nó vẫn được giới nghiên cứu tự sự học quan tâm, bởi lẽ trong tác pham tự su, người kê chuyện là một sự ton tại tat yếu, là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật.1 Người kế chuyện và những yếu tố nhận diện người kế chuyện 1.11 Người kể chuyện Người kê chuyện là một thuật ngữ công cụ của tự sự học, được xem là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật.Trong số các yếu tô cấu trúc văn bản tự sự, người ké chuyện là yếu tố giữ vai trò trung tâm.
Moi nghiên cứu về nghệ thuật tự sự đều có quan hệ đến phương diện này. Thêm vào đó, các khái niệm cơ bản nhất của tự sự học như: điểm nhìn, tiêu điểm, người tiêu điểm hóa, lời văn nghệ thuật, tình tiết tự sự.đều được phản ánh thông qua người kể chuyện trong tác phẩm. Nếu như trước đây, trong suốt một thời gian dài, khi nghiên cứu tác pham tự sự, những phương diện như tác giả, người đọc ít được chú ý mà chỉ chú trọng đến việc khảo sát thế giới nghệ thuật được nhà văn xây dựng bên trong đó. Theo đó, vai trò của người ké chuyện vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng trong quá trình vận động của đời sống tác phẩm văn học.
Dù nhân tố này có mối liên hệ mật thiết đối với tác giả thực tế, tức là nhà văn, người trực tiếp sáng tạo nên tác phâm văn học. Phải đến khi ngành nghiên cứu tự sự học ra đời, yếu tố người ké mới được chú ý đến một cách hệ thống và toàn diện. Chính điều này đã làm thay đổi nhận thức trong việc cảm thụ văn học. Từ đây, tiếp nhận văn học là một quá trình tương tác giữa ba thành tố cơ bản là tác giả - tác phâm - người đọc.
Tương đương với thuật ngữ người kể chuyện, người đứng ra kế trong tác phẩm tự sự còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác như: người trần thuật, người thuật chuyện, kẻ mang thông điệp, chủ thé trần thuật, chủ thé ké chuyện. Trong luận văn, người viết thống nhất chon dùng tên gọi øgười kể chuyện. Cũng như việc 13 có nhiêu cách gọi tên, xung quanh khái niệm này cũng có rât nhiêu quan điêm khác nhau. Một sô quan điêm nôi bật, có thê kê đên như: Theo các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, thì “người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (.) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tu sự” (11, tr.
Như vậy, ở đây, người kê chuyện là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm của mình và văn bản tự sự chính là sản phâm ngôn từ do hoạt động ngôn ngữ nhân vật này xây dựng nên. Với cách nhìn nhận đặt trong tương quan giữa người ké chuyện và kết cấu tác phẩm, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương khang định: “Khái niệm hình tượng tác giả (người kế chuyện — NV) nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm. Đó là phạm trù thi pháp cao nhất quyết định đặc điểm và nội dung của cau trúc tác phẩm, quyết định cả tính khuynh hướng và sự triển khai tác phẩm đó”[12, tr. Có nghĩa là, người kê chuyện giữ vai trò định hướng và quyết định đối với việc tô chức các yếu tố trong cau trúc của một văn bản tự sự.
Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì người kể chuyện có vai trò như một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ người phát ngôn đến người nhận: “Các /hông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan ra mệnh lệnh, người kế chuyện trong tiêu thuyết, hay các đối tác ký vào hợp đồng hợp tác kinh doanh.Những kẻ mang thông điệp có thé có thật hoặc hư cấu ” [1§, tr. Với một quan điểm rộng dựa trên nền của lý thuyết hội thoại, tác giả của Văn chương như là quá trình dụng điển đã xác định được vai trò quan trọng của người ké chuyện trong tác pham tự sự: cầu nối trung gian giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Thêm vào đó ông còn nhân mạnh “chính đặc điểm và mối quan hệ giữa thông điệp và kẻ mang thông điệp là cdi quyết định tính chất của văn bản”[18, tr.178] và “trong truyện, thông điệp mang tính chất khái quát, và kẻ mang thông điệp là những nhân vật hư cấu” [18, tr. Quan điểm này thống nhất với các tác gia của Từ điển thuật ngữ văn học ở trên.
14 Tác giả Lê Ngoc Trà đưa ra một quan niệm ngắn gọn hơn về người kế chuyện, dựa trên mối quan hệ giữa chủ thé kể chuyện và lời ké trong tác phẩm tự sự: “Người kẻ chuyện là chủ thể của lời ké chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm van học” [49, tr. Ở đây, định nghĩa đã nêu bật được vai trò đặc trưng mang tính chức năng của người kê chuyện. Tác giả Lại Nguyên An lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người kê chuyện trong trần thuật tự sự: “Tiran thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người tran thuật — một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [1, tr. Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này.
Day là những dấu hiệu cơ bản nhất dé nhận diện người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay. Như vậy, có rất nhiều quan điểm về khái niệm này, nhưng người viết cho rằng người ké chuyện chính là chủ thé của những lời ké về câu chuyện nào đó trong tác phẩm văn học. Chủ thể đó là một nhân vật đặc biệt được nhà văn sáng tạo dé dan dat, goi mo hay sap dat cau chuyén duoc kế. Đó là “ké duoc sang tạo ra dé mang lời ké” (33, tr.
Vì vậy, trong tac pham tự sự sẽ không thé có trần thuật thiếu người kê chuyện. Mỗi định nghĩa khai thác khái niệm người kể chuyện ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau về người ké chuyện trong tác phẩm tự sự: + Người kế chuyện là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sang tạo nên, là người đại điện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự. + Trong phạm vi tác phẩm, người ké chuyện là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chỉ phối việc tô chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự. + Người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc.
Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người ké chuyện của nó. Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả trong tác phẩm. 15 Song quan điểm tác giả chỉ có thể được thể hiện qua điểm nhìn, tầm nhận thức của người kê chuyện như một hình tượng it nhiều tồn tại độc lập. Là người đại diện phát ngôn, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả trong tác phâm, người kế chuyện đồng thời đóng vai trò trung giới giữa người đọc với thế giới nghệ thuật hình tượng và tác giả.
Người kể chuyện cung cấp cho người đọc những dấu hiệu, chi dan dé thâm nhập sâu vào trong đời sống của các nhân vật. Người ké chuyện còn hướng người đọc cùng suy ngẫm, chia sẻ và đồng cảm với những chiêm nghiệm, những suy nghĩ của mình về cuộc đời. Những chiêm nghiệm, suy tư ấy có căn cứ từ trong văn bản tự sự, trong thế giới hình tượng nhà văn xây dựng trong sáng tác của mình. Bằng cách này, người kế chuyện cũng kéo người đọc đến gần hơn với những quan niệm của tác gia về hiện thực, về nhân sinh.
Tuy nhiên, không nên đồng nhất tac giả với người ké chuyện. Tác giả không bao giờ hiện diện trong truyện kể như một người kể, người phát ngôn mà chỉ xuất hiện như một tác giả hàm ấn, một cái Tôi thứ hai của nhà văn với tư cách là người mang quan niệm và giá trị của tác phẩm. Tác giả xuất hiện chỉ như người ghi chép hay nghe trộm người kể. Người kế chuyện là kẻ được sáng tạo ra dé mang lời kể.
Và sản phẩm của hành vi trần thuật đó là văn bản tự sự. Thêm vào đó, thái độ của người kế chuyện đối với câu chuyện được kể lại có thé phan nao trùng với quan điểm của tác giả, nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn. Bởi vì quan điểm tác giả bao giờ cũng rộng hơn, nó không thé được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thé lời nói riêng biệt nao trong tac phẩm. Dù chủ thể lời nói đó có thé gần gũi với tác giả đến đâu, cũng chỉ có thé được thé hiện qua toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thê nghệ thuật.
Hơn nữa, vì ngoải phần thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, người ké chuyện mang trong mình cả một phan nội dung khách quan của thế giới được phản ánh vào tác phẩm; phan nội dung khách quan đó thường thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời đại của nhà văn được nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình. Ngay cả trong những tác phẩm có tính tự truyện thì giữa người kế chuyện với tác giả vẫn có những nét khác nhau.