Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Xây dựng hệ thống CH, bài tập, đề kiểm tra ĐG KQHT chủ đề Đạo hàm theo định hướng phát triển NL. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán theo định hướng phát triển năng lực 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề ĐG KQHT đã được đề cập từ rất lâu trong lịch sử giáo dục. Trong “Lý luận dạy học hiện đại” nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comensky người đã đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho lý luận dạy học. Người đã nêu lên ý nghĩa, vai trò vô cùng to lớn của kiểm tra, ĐG trong quá trình dạy học.
Ở thế kỉ XVIII, nhà giáo dục Đức I.Bazeio (1724- 1796) là người đầu tiên đề xuất hệ thống kiểm tra - ĐG trong trường học. Hệ thống ĐG của ông được chia thành 12 bậc nhưng khi áp dụng chỉ có 3 bậc: tốt, trung bình, kém. Khung bậc ĐG này được sử dụng ở nhiều nước, đặc biệt là ở Nga. Những năm 20, 30 của thế kỉ XX, Ralph Tyler đã nghiên cứu về quá trình kiểm tra ĐG trong dạy học.
Ông đã nhấn mạnh : “Quá trình kiểm tra, ĐG chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện mục tiêu trong quá trình dạy học”. Năm 1910, Rotxotimo đã đưa ra phương pháp: “TN tâm lý” sau đó phương pháp TN này đã được dịch sang tiếng Đức và được chú ý nhiều ở Tây Âu. Ở Mĩ TN đã được các nhà tâm lý học, giáo dục học đặc biệt chú ý. Có lẽ đó cũng là hệ thống ĐG đầu tiên được áp dụng phổ biến trong nhà trường.
Vào năm 1997, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) đã khởi xướng Chương trình ĐG HS quốc tế PISA. PISA là một hệ thống ĐG quốc tế tập trung vào khả năng đọc hiểu, kỹ năng Toán và khoa học của HS ở lứa tuổi 15. Chương trình được thực hiện từ năm 2000 và cứ 3 năm lặp lại một lần. Mỗi đợt bao gồm các ĐG của cả ba phần, nhưng chỉ có một phần được ĐG sâu.
Trong chương trình ĐG này, đề thi chú trọng đến các tình huống phát sinh trong thực tiễn, liên quan đến kiến thức ở phổ thông đã học. Mục đích 6 của chương trình ĐG PISA là cung cấp các dữ liệu so sánh nhằm giúp cho các quốc gia tham gia có cơ hội nhìn nhận một cách khá toàn diện về những “kỹ năng cơ bản”, “NL cá nhân” mà HS quốc gia họ đạt được, để từ đó đưa ra chính sách mới nhằm phát triển giáo dục một cách bền vững, Việt Nam bắt đầu tham gia PISA từ đợt ĐG năm 2012. Kết quả của HS Việt Nam qua 2 lần tham gia chương trình PISA đều được ĐG cao hơn giá trị trung bình trong số các nước tham gia. Đặc biệt về môn Toán năm 2012 đứng thứ 17/65; năm 2015 đứng thứ 22/72.
Những nghiên cứu ở trong nước Vấn đề kiểm tra ĐG KQHT cũng được khá nhiều nhà khoa học trong nước đề cập tới. Tác giả Trần Bá Hoành đã đưa ra nhận định kiểm tra ĐG là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, ông nhận định rằng ĐG không đơn thuần chỉ là ghi nhận thực trạng còn đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng [8]. Nếu nhận định của tác giả Trần Bá Hoành đề cập đến vai trò của công tác ĐG thì Trần Khánh Đức, Đại học quốc gia Hà Nội lại đề cập khía cạnh thực trạng công tác ĐG trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam hiện nay, ông cho rằng các hình thức ĐG thiên về ghi nhớ, nhắc lại những nội dung giảng dạy đã bộc lộ nhiều hạn chế như không phát huy sáng tạo người học, không tận dụng được khả năng linh hoạt, sáng tạo của người học [4]. Hay như tác giả Nguyễn Kim Dung, viện nghiên cứu giáo dục trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh lại có cách nhìn về công tác ĐG hiện nay tại Việt Nam chỉ thiên về đo lường mà không thiên về khuyến khích phát triển người học, việc quản lý và ĐG chủ yếu chỉ thực hiện theo chương trình sao cho đúng và đủ chứ chưa quan tâm đến lợi ích thiết thực người học [2].
Từ năm 1994 đến nay, Bộ giáo dục và Đào tạo cũng bắt đầu quan tâm đến vấn đề nghiên cứu ĐG, kiểm tra, thi cử. Đặc biệt gần đây là Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định ĐG HS tiểu học. Bàn về kiểm tra ĐG trong dạy học môn Toán cũng như việc xây dựng phương thức và công cụ ĐG trong giáo dục, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này, chẳng hạn: - Xây dựng phương thức và một số công cụ ĐG chất lượng giáo dục phổ thông được nghiên cứu bởi tác giả Trần Kiều (2006) [10]. - ĐG KQHT theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông được nghiên cứu bởi tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2010) [14].
- Rèn luyện kỹ năng tự ĐG KQHT môn Toán của HS THPT được nghiên cứu bởi tác giả Bùi Thị Hạnh Lâm (2010) [11]. - ĐG trong giáo dục Toán được nghiên cứu bởi tác giả Trần Vui và Nguyễn Đăng Minh Phúc (2013) [ 21]. Về vấn đề ĐG NL , các tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [13], Lâm Quang Thiệp [18], Nguyễn Công Khanh [9] ,… cũng có các công trình nghiên cứu về ĐG NL, từ khái niệm ĐG NL, mục đích của ĐG NL, đến phương pháp, kỹ thuật hay công cụ ĐG NL. Đối với vấn đề ĐG NL giải quyết vấn đề, Nguyễn Thị Lan Phương [15], [16] đã xây dựng khung ĐG NL giải quyết vấn đề, chỉ ra cách thức tìm cơ hội phát triển NL giải quyết vấn đề của HS phổ thông qua môn Toán; cách thức xây dựng bộ công cụ ĐG NL giải quyết vấn đề và công bố một số kết quả đo lường NL này trong thực tiễn.
Phan Anh Tài [17] đã nêu ra một số cách phân tích những yếu tố có trong giả thiết bài toán để nhận dạng bài toán, tìm lời giải bài toán, qua đó phát triển NL giải quyết vấn đề cho HS, đồng thời đề xuất biện pháp ĐG NL giải quyết vấn đề của HS qua môn Đại số lớp 11. Nhìn chung, chúng ta có thể thấy rằng các công trình trong nước nghiên cứu về lĩnh vực ĐG chủ yếu theo hướng vận dụng các tri thức khoa học về ĐG vào tình hình thực tiễn Việt Nam bằng cách đề xuất các phương thức và 8 một số công cụ ĐG thông dụng nhằm ĐG chất lượng phổ thông; hoặc theo hướng tìm cách rèn luyện cho người học kỹ năng tự ĐG KQHT của HS. Đối với HS THPT, ĐG KQHT theo tiếp cận NL là một vấn đề đang được quan tâm. Do đó việc nghiên cứu ĐG KQHT môn Toán của HS THPT theo định hướng phát triển NL là hết sức cần thiết.
Thực tiễn về kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán theo định hướng phát triển năng lực hiện nay Qua việc tiến hành khảo sát ý kiến của 40 GV các trường THPT Thủy Sơn, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Quang Trung trên địa bàn huyện Thủy Nguyên - Hải Phòng về công tác kiểm tra ĐG KQHT môn Toán của HS, chúng tôi đã thống kê kết quả khảo sát như sau: 1. Về hoạt động ĐG NL Trước hết về vai trò của hoạt động ĐG KQHT, qua thống kê số lượng khảo sát được ( bảng 1.1) cho thấy, phần lớn GV ĐG cao vai trò của hoạt động ĐG KQHT của HS thể hiện ở chỗ 77,5% GV cho rằng hoạt động ĐG KQHT là rất quan trọng, 22,5% cho rằng khá quan trọng, không có GV nào chọn các mức thấp khác. Vai trò của ĐG KQHT TT Nôị dung Số lượng % Theo Thầy/cô, ĐG KQHT của HS đóng vai trò 1 như thế nào trong quá trình dạy học ở trường THPT? a. Rất quan trọng 31 77.
Khá quan trọng 9 22. Bình thường 0 0. Không quan trọng 0 0.0 % Về định hướng thực hiện ĐG KQHT môn Toán của HS THPT (bảng 1.2) hiện nay các thầy, cô chủ yếu vẫn ĐG theo hướng tiếp cận nội dung ( với 22 thầy cô lựa chọn, chiếm 55%) chưa có thầy cô nào thực hiện ĐG theo định hướng NL, tuy nhiên có một số thầy cô đang tiếp cận dần với ĐG theo hướng NL ( 9 thầy cô lựa chọn, chiếm 22,5%) Bảng 1. Thực trạng ĐG KQHT môn Toán của HS THPT TT Nội dung Số lượng % Hiện tại thầy cô công tác thực hiện ĐG KQHT 3 môn Toán của HS THPT theo định hướng nào? a.
ĐG theo định hướng vào nội dung kiến 22 55.0% thức HS thu nhận được b. ĐG theo định hướng NL 0 0. Đang chuyển dần từ ĐG tiếp cận nội dung sang 9 22. Kết hợp cả hai định hướng trên 9 22.5 % Về khái niệm ĐG NL có thầy cô lựa chọn phương án c (ĐG khả năng người học áp dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học được vào các tình huống thực tiễn của cuộc sống).
Đây cũng chính là quan điểm phổ biến về ĐGNL trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, chứng tỏ các thầy cô đã cập nhật và hiểu biết về ĐG NL nhưng chưa thực hiện vào thực tiễn giảng dạy. Khái niệm ĐGNL TT Nội dung Số lượng % Trong các quan điểm sau đây về ĐG NL, theo 6 thầy cô đồng ý với quan điểm nào nhất: a. Là ĐG kiến thức, kỹ năng thái độ của người học 6 15% qua nội dung môn học. Là ĐG kiến thức, kỹ năng thái độ của người học 9 22.5% trong một bối cảnh có ý nghĩa.
Là ĐG khả năng người học áp dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học được vào trong các 25 62.5% tình huống thực tiễn của cuộc sống. Về hoạt động xây dựng hệ thống CH ĐG NL Qua phiếu khảo sát, các thầy cô cho biết, các trường hoặc đã xây dựng hoặc đang bước đầu xây dựng hệ thống CH theo định hướng nội dung, chưa có trường nào xây dựng hệ thống CH theo định hướng ĐGNL. Thực trạng xây dựng hệ thống CH ĐG NL TT Nôị dung Số lượng % Hiện tại trường nơi thầy cô công tác đã xây 5 dựng, hệ thống CH ĐG KQHT môn Toán của HS chưa? Có ĐG NL không? a. Chưa xây dựng hệ thống CH 0 0% b.
Đã xây dựng, ĐG nội dung 40 100 % c. Đã xây dựng, ĐG nội dung, đang chuyển 12 30 % sang theo hướng ĐG NL d. Đã xây dựng theo hướng ĐG NL 0 0.