CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO 1. Khái quát lịch sử quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nhận thức được tầm quan trọng của việc ban hành các văn bản pháp luật nói chung, các quy định pháp luật hình sự nói riêng, trong đó có quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản lần đầu được ghi nhận tại Pháp lệnh số 150/LCT ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân với tên gọi là: “Tội lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân”.
Theo đó, tại Điều 8Pháp lệnh số 150/LCT ngày 21/10/1970:quy định“1. Kẻ nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm. Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm”. Quy định trên đã lần đầu tiên ghi nhận và xem hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội, khách thể của tội phạm là xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, nhưng so với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì Pháp lệnh đã không đưa định lượng cụ thể giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mà thay vào đó, chỉ quy định chung chung là gây hậu quả nghiêm trọng.
Nhìn chung, thông qua quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh, đã thể hiện rõ quan điểm củaĐảng và Nhà nước 8 trong việc xử lý đối với các hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân. Như vậy, qua những phân tích trên, có thể thấy mặc dù mới chỉ quy định một cách chung chung, chưa cụ thể về số tiền chiếm đoạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như chưa quy định về khái niệm tội phạm chức vụ. Tuy nhiên, việc pháp luật hình sự trong giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8/1948 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đã ghi nhận và xem hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là tội phạm. Qua đó, đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức có hiệu quả.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 Bộ luật Hình sự năm 1985 được ban hành ngày 27/6/1985, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của pháp luật hình sự ở nước ta vì đây là Bộ luật Hình sự đầu tiênlà cơ sở pháp lý phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Lần lượt các năm sau đó, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 04 lần (ngày 28/12/1889, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997). Thời gian đầu, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 156, Chương VI, có nội dung “1- Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; b) Tái phạm nguy hiểm”.
Đến khi Pháp lệnh chống tham nhũng ra đời, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được sửa đổi theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được thông qua ngày 10/5/1997, với nội dung “1- Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm. 2- Phạm tội 9 thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Tài sản có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng; d) Phạm tội nhiều lần; đ) Gây hậu quả nghiêm trọng; e) Tái phạm nguy hiểm.3- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm: a) Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này; c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình: a) Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này; c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng." Như vậy, so với Điều 156 theo Luật sửa đổi bổ sung BLHS năm 1997 thì Điều 156 BLHS năm 1985 chưa đưa định lượng cụ thể giá trị tài sản phạm tội và quy định mức hình phạt cao nhất là 12 năm tù. Đến khi được sửa đổi, bổ sung lần thứ ba vào ngày 10/5/1997 thì điều luật đã định lượng cụ thể số tiền chiếm đoạt và quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội phạm là tử hình.
Hay nói cách khác, so với quy định trước đó thì đến năm 1997, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân đã được sửa đổi, bổ sung lại theo hướng chia ra nhiều khoản khác nhau, định lượng chi tiết số tiền bị chiếm đoạt và tăng mức hình phạt lên nghiêm khắc hơn. Như vậy, có thể khẳng định Bộ luật Hình sự năm 1985 là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên quy định thống nhất và hoàn chỉnh về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản sau bốnlần sửa đổi bổ sung đã cụ thể, chi tiết hơn, tạo thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tế. Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đánh dấu bước phát triển tiến bộ về lập pháp trong lĩnh vực hình sự nước ta, là cơ sở nền tảng cho việc hoàn thiện các quy định đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nói riêng, các tội phạm về tham nhũng nói chung.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 Cùng với sự phát triển của điều kiện xã hội, các quan hệ pháp luật cũng ngày 10 càng đa dạng và phức tạp, điều này đòi hỏi Bộ luật Hình sự cũng cần có những điều chỉnh phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngày 21/12/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật Hình sựnăm 1999,tại Bộ luật Hình sự này, tội lạm dụng chức vụ,quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 280, mục A (các tội phạm về tham những thuộc), chương XXI (các tội phạm về chức vụ), với tên gọi là“Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: 1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm: a) Có tổ chức; b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c) Phạm tội nhiều lần; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác; 3.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác; 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác; 5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.” Theo đó, so với Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1985, thì Điều 280 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bổ sung tình tiết người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay cả khi giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 500.000 đồng nếu thuộc trường hợp “đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục A chương này (tội phạm về tham nhũng), chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”. Ngoài ra, giá trị tài sản bị chiếm đoạt quy định trong các khung hình phạt tại Điều 280 BLHS năm 1999 cũng được giảm xuống so Điều 156 BLHS 1985 như: từ năm triệu đồng đến 11 dưới một trăm triệu đồng được giảm xuống từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng (khoản 1); từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng xướng từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng (khoản 2); từ ba trăm triệu đến dưới năm trăm triệu được thay bằng từ hai trăm triệu đến dưới năm trăm triệu ( khoản 3).