Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI THỰC HIỆN CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC 1. Khái niệm, ý nghĩa của nhân thân người phạm các tội xâm phạm tình dục 1. Khái niệm nhân thân người phạm các tội xâm phạm tình dục Con người muốn tồn tại đòi hỏi phải có quá trình hoạt động để phục vụ cho cuộc sống bản thân như ăn uống, nghỉ ngơi… Đồng thời, trong bất kỳ xã hội nào, bao giờ con người cũng có quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong quá trình sinh hoạt khác. Theo quan điểm của C.
Mác: Con người là một bộ phận của tự nhiên nhưng trong mối quan hệ với tự nhiên con người khác với con vật.Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [5, tr. Con người, trước tiên phải mang những đặc điểm sinh học, con người là do tự nhiên sinh ra cho nên con người phải mang những đặc điểm của tự nhiên. Những đặc điểm tự nhiên phản ánh thông qua tính sinh học bằng các tiêu chí như giới tính, độ tuổi, nơi sinh sống, nơi ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt. bảo đảm cho con người có thể tồn tại được.
Yếu tố sinh học trong con người không tồn tại độc lập bên cạnh yếu tố xã hội, mà hoà quyện và tồn tại trong yếu tố xã hội. Bản tính tự nhiên được chuyển vào bản tính xã hội và được cải biến ở trong đó. Tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người. Con người là sản phẩm của tự nhiên nên trước hết mang các đặc tính tự nhiên, đặc tính sinh học.
Cái đặc tính sinh học trong con người quyết định sự hình thành tâm, sinh lý của con người. Mặc khác trong hoạt động sản xuất con người không thể tách khỏi xã hội, tính xã hội là đặc điểm cơ bản làm cho con người khác con vật nó thể hiện ở hoạt động giao tiếp xã hội.Mác đã chỉ rõ vai trò của xã hội đối với sự hình thành cá nhân và vai trò của cá nhân đối với sự hình thành xã hội“Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế” [6, tr,169]. Như vậy, đời sống sinh hoạt, kinh nghiệm sống của cá nhân được quy định bởi nội dung của các quan hệ xã 9 hội cụ thể hình thành trong gia đình, môi trường, bạn bè trong lao động hay học tập. Tất cả các yếu tố đó đều có ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân thân của con người.
Trong quá trình đánh giá nhân thân của con người cần phải chú ý đến đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội. Con người cũng là sản phẩm của xã hội cho nên khi đánh giá con người không được bỏ qua những hiện tượng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hình thành và phát triển của nhân thân. Do vậy, khi nghiên cứu nhân thân con người nên tránh quan điểm tâm lý hóa khái niệm nhân thân cho rằng nhân thân là tổng hợp các đặc điểm tâm lý và không liên quan đến chức năng và vai trò xã hội. Ngược lại cũng không nên tuyệt đối hóa chức năng và vai trò xã hội mà bỏ qua các đặc điểm sinh học, tâm lý của con người.
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Nhà nước đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người nào thực hiện các hành vi đó, nên tội phạm mang bản chất là một hiện tượng pháp lý. "Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm" [39, tr.
Như vậy, khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là nghiên cứu con người phạm tội cụ thể. Những dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội bao gồm tất cả các đặc điểm, dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội mà luật hình sự quy định là chủ thể của tội phạm. Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người nói chung là họ đã thực hiện hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các đặc điểm riêng đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình, đời sống kinh tế, thái độ chính trị, sở thích cá nhân, ý thức chấp hành pháp luật… Như vậy, khái niệm nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là: “Tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự 10 kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [60, tr.
Tuy nhiên, để nêu được khái niệm nhân thân người phạm các tội XPTD cần làm rõ thêm khái niệm xâm phạm tình dục, tội xâm phạm tình dục. Theo từ điển Tiếng Việt thì khái niệm: “Xâm phạm là động chạm đến quyền lợi của người khác” [58, tr.1054], “còn tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người về quan hệ tính giao” [58, tr. Từ các khái niệm này, có thể hiểu xâm phạm tình dục là hành vi tác động gây thiệt hại đến quyền tự do về tình dục của người khác. Từ quy định tại khoản 1, Điều 8, Bộ luật Hình sự 1999, có thể thấy dấu hiệu của tội phạm được thể hiện: đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội; được quy định trong Luật hình sự; do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý; xâm phạm vào những quan hệ được Luật hình sự bảo vệ.
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra định nghĩa tội phạm XPTD như sau: Tội xâm phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong chương XII của Bộ luật Hình sự 1999, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng về nhân phẩm, danh dự, của người khác, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường cả về thể chất và tinh thần của họ. Từ định nghĩa này và những phân tích ở trên, có thể đưa ra định nghĩa nhân thân người phạm các tội XPTD như sau: Nhân thân người phạm các tội XPTD là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm về mặt xã hội, đạo đức, tâm lý, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài làm cho người đó đã phạm các tội XPTD được quy định tại chương XII của BLHS hiện hành. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm các tội xâm phạm tình dục Nghiên cứu nhân thân người phạm các tội XPTD có các ý nghĩa sau: 1. Nghiên cứu nhân thân người phạm các tội XPTD giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác.
11 Định tội danh là quá trình nhận thức trên cơ sở đánh giá toàn diện các tình tiết, các chứng cứ của vụ việc để so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra được cấu thành tội phạm tương ứng, phù hợp trong BLHS làm căn cứ pháp lý cho việc xác định chính xác TNHS, đảm bảo cho việc áp dụng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Theo khoa học Luật hình sự: "Nhân thân người phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm nhưng trong quá trình đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và xác định trách nhiệm pháp lý của người phạm tội đó thì cần phải xem xét những đặc điểm, dấu hiệu về nhân thân của người phạm tội được cân nhắc để giải quyết những vấn đề của trách nhiệm hình sự (cá thể hóa hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn và giảm hình phạt)" [59, tr. Trong quá trình định tội, nhiều đặc điểm của tội phạm XPTD được luật hình sự xác định là những yếu tố định tội và định khung hình phạt đối với các tội XPTD tại chương XII của BLHS năm 1999, có các đặc điểm nhân thân như đặc điểm “độ tuổi” là dấu hiệu định tội được quy định trong các Điều 115, 116 BLHS 1999; đặc điểm “Có quan hệ cùng dòng máu trực hệ hoặc quan hệ anh, chị em cùng cha, mẹ; anh, chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha” là dấu hiệu định tội trong Điều 150 BLHS 1999. Một số đặc điểm nhân thân là các tình tiết định khung như đặc điểm “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 112, tại điểm d khoản 2 Điều 114, tại điểm đ khoản 2 Điều 116 BLHS 1999; đặc điểm “Phạm tội nhiều lần” được quy định tại các Điều 112, 114, 115, 116 BLHS 1999; đặc điểm: “nghề nghiệp” quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 112; điểm c, khoản 2, Điều 116; đặc điểm “Có quan hệ cùng dòng máu trực hệ hoặc quan hệ anh, chị em cùng cha, mẹ; anh, chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha” quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 112; điểm a khoản 2, Điều 114; điểm c, khoản 2, Điều 115.
Nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPTD, giúp xác định được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, đặc biệt là nhóm nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội. 12 Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm XPTD là những đặc điểm cá nhân của người phạm tội và những tình huống hoàn cảnh khách quan bên ngoài trong sự tác động lẫn nhau của chúng dẫn đến việc thực hiện tội phạm XPTD. Việc phân tích các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể chỉ ra rằng không thể nhận thức, hiểu biết được các nguyên nhân và điều kiện đó nếu thiếu việc cân nhắc nhân thân người phạm tội [60, tr. Như vậy, nghiên cứu các đặc điểm nhân thân và những yếu tố tác động đến quá trình hình thành các đặc điểm tiêu cực của nhân thân người phạm các tội XPTD được thể hiện dưới dạng những đặc điểm cá nhân cụ thể như sinh học, nhận thức xã hội, giới tính… sẽ cho thấy rõ những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, đặc biệt là nhóm nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội.