Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI HIẾP DÂM TRẺ EM Trong chương này, tác giả sẽ tiếp cận từ lí luận chung của tội phạm học về nhân thân người phạm tội để làm sáng tỏ lí luận về nhân thân người phạm tội hiếp dâm trẻ em. Khái niệm, ý nghĩa của nhân thân người phạm tội HDTE 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội HDTE Hành vi phạm tội luôn gắn liền với con người cụ thể. Tuy nhiên, “Con người trong khoa học luật Hình sự được nghiên cứu dưới vỏ bọc của thuật ngữ “chủ thể của tội phạm”.
Còn con người trong Tội phạm học được nghiên cứu dưới vỏ bọc của thuật ngữ “nhân thân người phạm tội” [44, tr. Trong Tội phạm học, nghiên cứu về nhân thân người phạm tội tức là nghiên cứu về các đặc điểm củacon người phạm tội, một khách thể nghiên cứu quan trọng, để hướng đến mục đích sau cùng là phòng ngừa tội phạm.Con người mà Tội phạm học nghiên cứu là những người đã thực hiện hành vi phạm tội, tức là những người đã trở thành chủ thể của tội phạm theo quy địnhcủa pháp luật hình sự. Khái niệm nhân thân người phạm tội đã được rất nhiều các tài liệu, giáo trình, luận văn đề cập như: Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu, các đặc tính quan trọng thể hiện bản chất xã hội của con người khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến xử sự phạm tội của người đó. Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các dấu hiệu, đặc tính quan trọng thể hiện bản chất xã hội của con người khi vi phạm pháp luật hình sự, mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến xử sự phạm tội của người đó [41, tr.
“Dưới góc độ Tội phạm học nhân thân người phạm tội là: tổng hợp các đặc tính, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội, tính cá biệt, không lặp lại của con người mà 10 trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới sự tác động của chính những điều kiện, hoàn cảnh đó làm động cơ phạm tội nảy sinh” [33, tr. Nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó [61, tr. Như vậy, qua nghiên cứu tác giả đúc kết được: Trong Tội phạm học, nhân thân người phạm tội là tổng thể các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt thể hiện bản chất xã hội của người vi phạm pháp luật hình sự trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài đã ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó. Luật pháp Việt Nam chưa có một định nghĩa pháp lý về HDTE, tuy nhiên ta có thể xác định được khái niệm “hiếp dâm” và khái niệm“trẻ em” thông qua các quy định của pháp luật hiện hành.
Theo Điều 111 BLHS 1999, hành vi hiếp dâm được mô tả là “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”. Tội HDTE tại Điều 112 BLHS, khoản 1 quy định: “người nào HDTE từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”; tại khoản 4 quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội HDTE”. Về khái niệm trẻ em, theo (Điều 1) Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. BLHS năm 1999 xác định “Người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Mặt khác, tại Điều 1 của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước ta quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Qua phân tích trên ta có thể chia thành 02 trường hợp được pháp luật hình sự quy định là HDTE: một là, giao cấu trái ý muốn của nạn nhân người mà có độ tuổi 11 từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; hai là, mọi trường hợp giao cấu với người dưới 13 tuổi. Từ đó, HDTE có thể định nghĩa là hành vi giao cấu với người dưới 13 tuổi hoặc hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn với những người này. Từ lý luận trên, có thể đưa ra khái niệm nhân thân người phạm tội HDTE như sau: Nhân thân người phạm tội HDTE là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội HDTE, trong sự kết hợp với điều kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến hành vi phạm tội HDTE của người đó.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE Ở mức độ khái quát nhất của Tội phạm học, không phải ngẫu nhiên mà nhân thân của người phạm tội trở thành khách thể nghiên cứu quan trọng. Nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong Tội phạm học có những ý nghĩa to lớn cho công cuộc phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ đề cập đến ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE như sau: Thứ nhất, nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE góp phần bảo đảm cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt một cách chính xác, thuyết phục.Nhân thân người phạm tội HDTE là tổng thể những đặc điểm riêng biệt có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội này. Mặc dù không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng trong quá trình xác định trách nhiệm hình sự,các cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập và nghiên cứu đầy đủ, chính xác những đặc điểm riêng biệt này của họ để giúp cho việc định tội, định khung và quyết định hình phạt đúng quy định pháp luật, không gây oan sai cũng như không bỏ lọt tội phạm.
Trong nhiều trường hợp, các nhà làm luật đã quy định cụ thể các yếu tố về nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong BLHS trở thành yếu tố loại trừ trách nhiệm hình sự, yếu tố miễn hình phạt hoặc yếu tố về nhân thân sẽ trở thành tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho đối tượng này. 12 Tại Điều 45 BLHS 1999 quy định “Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt. Khi quyết định hình phạt, Tòa án luôn cân nhắc về vấn đề nhân thân người phạm tội một cách toàn diện, xem xét cả mặt tốt cũng như mặt xấu về nhân thân người phạm tội, xem xét về độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn… và đặc biệt là khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội để họ có đủ thời gian ăn năn, hối cãi về hành vi của mình, trở thành một người có ích cho xã hội. Ví dụ, chỉ với một yếu tố thuộc nhân thân là về độ tuổi, ta có thể thấy được yếu tố này ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự như thế nào:Đối tượng A thực hiện hành vi giao cấu với bé X khi bé X chưa đủ 13 tuổi.
Khi thực hiện hành vi giao cấu với bé X: Trường hợp A chưa đủ 14 tuổi thì theo quy định tại Điều 12 BLHS, A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp A từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù (Khoản 2 Điểu 74 BLHS). Trường hợp A từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì mức hình phạt cao nhất không quá mười tám năm tù (Khoản 1 Điểu 74 BLHS). Trường hợp A đã 80 tuổi thì khi này, yếu tố nhân thân về tuổi của A lại trở thành tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với A theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS, ngoài ra A sẽ không bị áp dụng hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất của BLHSlà tử hình (điểm b khoản 2 Điều 40 BLHS 2015).
Thứ hai, nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tình hình loại tội phạm. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là hai yếu tố khác nhau trong cùng một hệ thống làm phát sinh tội phạm. “Nguyên nhân sinh ra hậu quả, còn điều kiện không thể sinh ra hậu quả mà tạo điều kiện, bảo đảm cho hậu quả xảy ra” [61, tr. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tác động lẫn nhau tạo thành các phẩm chất tâm lý tiêu cực của con người, đây là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế của hành vi phạm tội.
Con người khi sinh ra không mang sẵn trong mình những nhân 13 cách sai lệch mà qua quá trình tác động lâu dài của môi trường sống đến nhận thức của từng con người hình thành nên. Qua thời gian, nhân cách sai lệch gặp điều kiện, hoàn cảnh tiêu cực trong môi trường sống sẽ làm phát sinh tội phạm. Như vậy, môi trường tiêu cực tác động lên con người, làm hình thành ở con người đó nhân cách sai lệch và trở thành đặc điểm nhân thân xấu. Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE sẽ cho thấy được nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm này.
Thứ ba,nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE có ý nghĩa lớn trong việc dự báo tình hình tội HDTE và phòng ngừa loại tội phạm. Qua nghiên cứu nhân thân người phạm tội HDTE trên địa bàn tỉnh, ta nhận thức được các yếu tố nhân thân đặc trưng, mang tính chất quyết định, ảnh hưởng đến việc phạm tội của các đối tượng, nhận thức được căn nguyên dẫn đến việc hình thành các yếu tố nhân thân này, kết hợp với xu hướng phát triển kinh tế, xã hội của địa bàn, từ đó đưa ra dự báo về tình hình loại tội phạm trong thời gian tới.