Chương 1: Một số van dé lý luận và pháp luật về các trường hợp ly hôn Chương 2: Thực tiễn giải quyết các trường hợp ly hôn va giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các trường hợp ly hôn. KHÁI NIỆM VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VE CÁC TRƯỜNG HOP LY HON 1. Một số van dé lý luận về các trường hợp ly hôn 1. Khái niệm ly hôn Xã hội nào thì sẽ có hình thái hôn nhân đó, tương ứng với nó là sẽ có chế độ hôn nhân nhất định xã hội phong kiến có hôn nhân phong kiến, xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa.
Theo Luật HN&GD Việt Nam Hôn nhân là sự dây kết nối giữa một người đàn ông và một người phụ nữ trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bên vững. Theo Luật HN&GD 2014 thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Ngược lại với đó, ly hôn 1a châm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Tòa án 1a co quan duy nhất có thâm quyển ra phán quyết cham dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng.
Phan quyết ly hôn của Tòa án thé hiện dưới hai hình thức bản án hoặc quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tinh ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì toà án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.” Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu là: “chấm đứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận ° https://luathasonbinh vn/2-truong-hop-ly-hon-duong-loi-giai-quyet-va-hau-qua-phap-ly-cua-ly-hon/ truy cap ngay 20/2/2024 hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc ca hai vợ chồng.” Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu va được giải thích cho các đương sự tham gia thực tiễn giải quyết ly hôn. Theo quan niệm này , ly hôn phan ánh rõ rang sự “chấm dứt quan hệ vợ chồng”, tức 1a giữa một người nam và một người nữ không còn hôn nhân nữa và mọi quyển , nghĩa vụ của hai bên đều biến mất pháp luật báo dam quyển lợi của các bên. Theo Lénin: “Thue ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cô những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thé có và vững chắc trong một xã hội văn minh”.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lénin, ly hôn là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc , trong mỗi giai đoạn phát triển lich sử , ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị điều chỉnh hệ thống hôn nhân thông qua nhà nước, pháp luật (hoặc phong tục) phù hợp theo ý chí của nha nước. Điều này có nghĩa là nha nước quy định bằng pháp luật những điều kiện nao quyết định việc xác lập quan hệ giữa vợ và chồng, đồng thời quy định hôn nhân có thé bị xoá bỏ (chấm dut) với những điều kiện nhất định. Điều 8 Khoản 8 Luật HN&GD năm 2000 quy định: “ Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng:”. Điều 3 Khoản 14 Luật HN&GD năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm đứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Toà án công nhận hoặc quyết định việc cham đứt quan hệ hôn nhân theo yêu cau của vợ hoặc chồng của cả hai vợ chồng theo Luật HN&GD 2014. Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là việc hội nhập quốc tế ngày càng rộng khiến việc ly hôn tại Việt Nam ngay càng tăng, nguyên nhân dẫn đến ly hôn cũng vô cùng phức tạp và đa dạng. Các trường hợp ly hôn Theo quy định của Luật HN&GD 2014, các trường hợp ly hôn bao gồm: - Trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn: là trường hợp hai bên vợ chồng cùng yêu cầu toa án giải quyết yêu cau ly hôn, dé được gọi là thuận tinh ly hôn hai vợ chồng đều phải đạt được tất các thoả thuận và tài sản, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con trênd cơ sở dam bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toa án công nhận thuận tình ly hôn. - Trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu: Khác với thuận tình ly hôn, trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu là việc vợ hoặc chồng đơn phương yêu cầu Tòa án châm dứt quan hệ vợ chồng bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Luật HN&GĐ năm 2014 kế thừa quy định của pháp luật HN&GD các thời kỳ quy định chủ thé được quyền yêu câu ly hôn trước hết là vợ, chồng - những chú thé trực tiếp tham gia quan hệ HN&GD. Khoản 1 Điều 51 luật này quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Đây là sự cụ thê hoá trong pháp luật chuyên ngành quy định trong Hiến pháp và pháp luật dân sự về quyền ly hôn của cá nhân. Theo tỉnh thần quy định trên, trường hợp một bên vợ hoặc chồng cảm thấy mục đích cuộc hôn nhân của mình không đạt được, cuộc sống chung không thê kéo dai, thì có thể yêu cau Tòa án giải quyết cho được ly hôn.” Bên vo, chéng phải tự mình thực hiện quyển yêu cầu ly hôn, thê hiện qua việc tự mình tiến hành các thủ tục tại Tòa án khi giải quyết ly hôn, không được thực hiện qua uy quyên, theo quy định tại Khoản 4 Điều 85 Bộ Luật TTDS năm 2015.
Căn cứ ly hôn ® Nguyễn Tiên Dũng (2019) , Ly hôn đo một bên yêu cầu và thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân huyện Ba Vi, thành phố Hà Nội, Hà Nội 11 Nếu hôn nhân là sự khởi đầu của mối quan hệ giữa nam va nữ thì ly hôn có thể được coi là điểm kết thúc của mối quan hệ này. Nếu cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục được nữa thì ly hôn là giải pháp cân thiết cho cả vợ chồng và xã hội. Với các quy định về ly hôn , nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội bằng cách tạo điều kiện cho phép quan hệ hôn nhân được chấm đứt trước pháp luật, được gọi là căn cứ ly hôn. Căn cứ ly hôn được hiểu là tiền đề hoặc co sở để Tòa án nhân dan có thâm quyền giải quyết ly hôn.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lénin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc. Pháp luật của nhà nước phong kiến, tư sản thường quy định hoặc là cắm vợ chồng ly hôn, hoặc đặt ra các điều kiện hạn chế quyên ly hôn của vợ chồng, hoặc quy định giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng. Về hôn nhân thời cổ: CMác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Trong suốt thời cô, các cuộc hôn nhân đều do cha mẹ quyết định thay cho con cái, và con cái đều yên tâm vâng theo” ”. Hôn nhân thời trung cô, hôn nhân của quý tộc (phong kiến), của thị dân các phường hội: Các ông đã chỉ rõ: “.
Đối với ki sĩ hoặc nam tước, cũng y như đối với bản thân hoảng tử, hôn nhân là một hành vi chính trị, là một cơ hội dé tăng cường thé lực của mình bằng những cuộc thông gia mới; chính lợi ích của vương triều quyết định, chứ không phải nguyện vọng cá nhân quyết địnhẺ. Hệ thống luật hôn nhân va gia đình HN&GD của chúng ta dưới chế độ phong kiến và thực dân là minh chứng cụ thé cho nhận định trên. Trong các mối quan hệ xã hội , đặc biệt là quan hệ HN&GD, hệ tư tưởng Nho giáo bị chi phối bởi các lễ nghi được thé chế hóa và trở thành luật pháp.Những phong tục ' C.Mac va Ph. Angghen, Toan tap, t.21, Nxb CTQG, H, 1995, tr 119.Mac va Ph.
Angghen, Toan tap, t.21, Nxb CTQG, H, 1995, tr 121 - 122 12 , quy định thê hiện sự phân biệt đối xử, chẳng hạn như giữa nam va nữ, giữa vợ và chồng, giữa con cái trong gia đình, v., vẫn là một phan bản chất của xã hội phong kiến “ trọng nam khinh nữ ”. Bộ luật Hồng Đức ( Quốc triều hình luật thời Nhà Lê ) va Bộ luật Gia Long (thời Nguyễn) là hai bộ luật của xã hội phong kiến Việt Nam (được nghiên cứu và còn nguyên vẹn cho đến ngày nay ) trong đó xác định căn cứ ly hôn khi quy định về căn cứ ly hôn đã dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng; đặc biệt là “tội”, “lỗi” của người vợ. Nguyên nhân ly hôn được quy định phản ánh sự bất bình dang giữa nam và nữ. Từ năm 1858 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Phỏng theo Bộ luật Dân sự năm 1804 của Cộng hòa Pháp ( Bộ luật Napoléon ), nhà nước thuộc địa nửa phong kiến ban hành 3 văn ban pháp luật điều chỉnh quan hệ dân su , trong đó có quan hệ HN&GD. Ba bộ luật dân sự được ban hành ( BLDS Bắc Ky năm 1931, BLDS Trung Kỳ năm 1936 va Tập dân luật giản yếu Nam Ky năm 1883) dé áp dụng ở ba vùng khác nhau. Các quy định vé căn cứ ly hôn đã khoan dung hơn đối với phụ nữ trong thời kỳ này ;Một phan nó thê hiện sự bình đẳng nam nữ trong ly hon , ly hôn. Nội dung của căn cứ ly hôn vẫn căn cứ vào “ lỗi” của một bên vợ hoặc chồng hoặc “ lỗi” chung của cả hai.
Sự sắp xếp nảy dựa trên quan niệm thuần túy rằng hôn nhân được coi là một hợp đồng dân sự. Vì vậy, hôn nhân chỉ có thé tan vỡ nếu vợ va chồng phạm lỗi không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ giữa vợ và chong. Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Chú tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( 2/9/1945 ).