CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VE HOẠT ĐỘNG CÔNG CHUNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động công chứng 1. Khai niệm công chứng và hoạt động công chứng 1.Céng chứng Trong xã hội cuộc sống của con người là tổng hòa của nhiều mối quan hệ, trong đó những quan hệ về dân sự diễn ra hàng ngày. Việc mua bán, trao đổi hàng hóa, tài sản nói chung không chỉ được thực hiện thông qua giao tiếp mà còn cao hơn là các hình thức giao dịch bằng văn bản.
Theo quy định của bộ luật Dân sự người có tài sản có quyền định đoạt tài sản theo nhiều hình thức khác nhau như: mua bán, tặng cho, thế chấp, đề lại, thừa kế qua di chúc. Các quan hệ đó phải được xác lập và được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định. Một số hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực thì các bên giao dịch phải thực hiện, không thê làm trái các quy định (các hợp dong mua bán nhà và tài sản gan liên với đất; các hợp dong giao dịch về chuyển nhượng quyên sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dung đất và tài sản gắn lién với đất; hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký sở hữu; các hợp đồng thế chấp tài sản). Mặt khác theo quy định của pháp luật dân sự nói chung, các hợp đồng giao dịch dân sự được thực hiện theo nguyên tắc chung, cơ bản phải có sự thỏa thuận về ý chí, đảm bảo năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia giao kết hợp đồng; đồng thời các hợp đồng giao dịch có nội dung, mục đích không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Ngoài các hợp đồng giao dịch bắt buộc phải công chứng, chứng thực, các giao dịch khác do các bên thỏa thuận và yêu cầu công chứng nếu đáp ứng các quy định nêu trên của pháp luật thì vẫn được công chứng. 10 Công chứng đã có lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm và găn bó chặt chẽ với đời sống dân sự. Khởi đầu công chứng là một nghề tự do trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết lập các văn tự, khế ước. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, công chứng đã khăng định sự tồn tại vững chắc và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, được nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt động hỗ trợ đắc lực cho cho nhân dân và nhà nước trên cả hai phương diện: hỗ trợ hành pháp (quan lý nhà nước) và bé trợ tư pháp.
Bởi vậy ma công chứng được coi là một trong những thủ tục pháp ly không thê thiếu trong các giao dịch dân sự. Theo từ điển Luật học của Mỹ, “công chứng (Notaria) là hoạt động của công chứng viên”. Công chứng viên theo tiếng La tinh là (Notarius). “Notarius trong luật Anh cổ là người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác hoặc người làm chứng ”.
Trong Luật La Mã, “công chứng viên là người ghỉ chép, thư ký, tốc kỷ, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện cua Toa an hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các đi chúc và giấy chuyển nhượng quyên sở hữu ” [56]. Theo Từ điển tiếng Việt, công chứng là “Sự chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyên nhằm xác nhận về mặt pháp lý các văn bản và bản sao từ gốc [69, tr. Công chứng là yếu tố bảo đảm niềm tin khi thực hiện các giao dịch hoặc thiết lập các quan hệ dưới góc độ bảo đảm quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức. Với góc độ quan lý nhà nước công chứng là hình thức quan lý nhà nước đặc thù được các chủ thé quan lý hành chính nhà nước sử dung ở các trường hợp và điều kiện tương ứng.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì công chứng là hoạt động tat yêu cần va có. Nhà nước cần phải thiết lập trật tự pháp lý và cơ chế khoa học dé bảo đảm công chứng là hình thức 11 quản lý nhà nước hiệu quả. Quan niệm về công chứng được xem là cơ sở lý luận hết sức quan trọng đối với việc thực hiện hoạt động công chứng; cũng là cơ sở quan trọng trong việc thiết lập thiết chế pháp lý về công chứng bảo đảm hoạt động công chứng hiệu quả. Có nhiều quan điềm, quan niệm khác nhau về công chứng.
Những quan điểm, quan niệm này là cơ sở nền tảng để xây dựng khái niệm công chứng tại các văn bản pháp luật. Dưới góc độ là hình thức quan ly nhà nước, công chứng được quan niệm như sau: Công chứng nhà nước là một hoạt động của nhà nước với mục đích giúp công dân, cơ quan tổ chức lập và xác nhận các van bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó,làm cho văn bản sự kiện đó có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản sự kiện đó làm cho văn bản sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động đó, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan, t6 chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [8]. Ở quan niệm này công chứng thiên về quản lý nhà nước; được thực hiện bởi chủ thé quan lý nhà nước nhằm bao đảm và duy trì các trật tự quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo vệ lợi ích của nhà nước và cộng đồng.
Ở một quan niệm khác, công chứng được hiểu: Là việc người có thâm quyền nhân danh Nhà nước xác nhận tính hợp pháp của giao dịch, văn bản, giấy tờ, bản dịch nhằm ngăn ngừa rủi ro 12 pháp lý, bảo đảm sự công bằng cho các bên tham gia giao dịch. Quan niệm này khang định công chứng là việc xác nhận tính xác thực cua các hợp đồng, giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi chung là t6 chức) góp phần ngăn ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [32]. Ở tất cả các quan niệm trên cho thấy công chứng là hoạt động mang tính bắt buộc được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch có tính chất quan trọng, phức tạp hoặc những giao dịch có giá trị lớn mà nhà nước đòi hỏi cân phải có sự định hướng và kiểm soát các giao dịch đó nhằm mục đích phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra cho các bên. Công chứng cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch dân sự, thương mại, những lợi ích vật chất và phi vật chất được thể hiện trong những cam kết, thỏa thuận diễn ra trong đời sống hàng ngày.
Đồng thời công chứng được đặt ra nhằm phục vụ rộng rãi các cá nhân, tô chức có nhu cầu tự nguyện công chứng hợp đồng, giao dịch để đảm bảo an toàn pháp lý khi tham gia các hợp đồng giao dịch. Như vậy, công chứng phải được thực hiện bởi chủ thể có thâm quyền theo quy định của pháp luật. Đây là chủ thể có nghĩa vụ xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch hoặc bản sao. Việc chủ thể có thâm quyền ký tên vào văn bản công chứng xác nhận tính hợp pháp của việc giao kết hợp đồng hoặc sự thoả thuận của giao dịch dân sự, đương nhiên chủ thê này phải chịu trách nhiệm về việc đảm bảo tính xác thực của việc giao két hop đồng, xác thực về thời gian, địa điểm, nội dung, các bên chủ thê giao kết đúng theo quy định của pháp luật.
Quan niệm công chứng chính xác là cơ sở, nền tảng quan trọng của chế định pháp lý về công chứng mà nhà nước cần ghi nhận. Điều này cũng ảnh hưởng đến phạm vi thâm quyền công chứng của các chủ thé có thâm quyên. 13 Từ những phân tích trên, luận văn hoàn toàn đồng tình với quan niệm về công chứng như sau: “Công chứng là việc công chứng là việc công chứng viên, theo yêu cầu của cá nhân, tô chức hoặc quy định của pháp luật, chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, không trái với đạo đức xã hội, giao dịch bằng văn bản và tính chính xác, hợp pháp, không trái với đạo đức của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Từ quan niệm trên, nhìn nhận công chứng ở các đặc điểm sau đây: - Công chứng là hoạt động xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, văn bản; Hoạt động xác nhận tính xác thực khăng định tính có thật của hợp đồng, giao dịch, văn bản.
Hoạt động xác nhận tính hợp pháp khẳng định hiệu lực pháp lý của hợp đồng, giao dịch và văn bản. Bên cạnh đó văn bản công chứng còn có giá trị thi hành. Văn bản công chứng có giá trị dé thi hành thé hiện việc hợp đồng, giao dịch, văn bản được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên giao dịch, hợp đồng có thỏa thuận khác.
Như vậy, giá trị thi hành văn bản công chứng có hai phương thức. Phương thức truyền thống là khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyên giải quyết. Phương thức thứ hai, mềm dẻo hơn — áp dụng khi các bên giao kết hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận. khi đó giá trị thi hành của văn bản công chứng theo phương thức thỏa thuận mà không cần khởi kiện ra Tòa án.
Kết quả công chứng luôn mang giá trị pháp ly, khang định giá trị hiệu lực pháp lý ở mọi quan hệ pháp luật có liên quan; bảo đảm tính hợp pháp ở việc thiết lập làm hình thành các quan hệ pháp luật. 14 Công chứng được xem là một nghề có tính chuyên nghiệp cao. Rõ ràng thực hiện hoạt động xác nhận phải thông qua chủ thé có thẩm quyền.