Chương I : Khái niệm kiểm chế đối trọng. Sự xuất hiện hệ thống kiểm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ. to Chương 2 : Nội dung của Hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ. Trong quá trình làm đề tài, mặc dù đã có sự cố gắng nỗ lực lớn, song bản luận án không thể tránh khỏi những điểm hạn chế, thiếu sót nhất định, tôi rất mong có được sự chỉ bảo của các thầy cô và đồng nghiệp để có kết quả tốt hơn.
HỆ THỐNG KIỀM CHẾ ĐỐI TRỌNG TRONG HIẾN PHÁP MỸ oe Se Se ie 3c CHUONG | KHÁI NIEM KIEM CHE ĐỐI TRONG, SU XUẤT HIEN HỆ THONG KIỂM CHẾ ĐỐI TRONG TRONG HIẾN PHAP MỸ -. KHÁI NIỆM KIỀM CHẾ ĐỐI TRONG : Khi tìm hiểu về nhà nước, một trong những vấn dé được đặt lên hàng đầu đó là : Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Vấn dé quyền lực Nhà nước luôn là vấn đề cần thiết. Nhưng vấn đề kiểm soát quyền lực cũng cần thiết không kém.
Một nhà nước dù được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập quyền hay nguyên tac phân quyền thì nguy cơ lạm dụng quyền lực vẫn luôn có thể xảy ra, nếu không có một sự kiểm soát, chế ngự hợp lý lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền. Có thể nói : Kiểm chế đối trọng là cơ chế kiểm soát, chế ngự lẫn nhau để ngăn chặn sự lạm quyền hay lấn át quyền và duy trì thế cân bằng giữa các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước tư sản. Nhà nước luôn là đại diện chính thức cho toàn quốc gia trong tất cả các mối quan hệ đối nội, đối ngoại, Nhà nước lại có pháp luật và cả bộ máy bạo lực để đảm bảo cho nó là tổ chức giữ vị trí trung tâm trong cơ chế thực hiện quyền lực chính trị. Nhà nước có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất, đồng thời là chủ thể thực hiện quyền lực, nên nhà nước có thể buộc các giai cấp, các tầng lớp xã hội phải phục tùng ý chí của mình.
Quyền lực nhà nước được hiểu là sức mạnh của nhà nước. Với sức mạnh này, nhà nước có thể buộc các thành viên trong xã hội phải phục tùng ý chí của mình. Hiện nay đa số các nhà nước đều tuyên bố trong hiến pháp của mình : Quyền lực nhà nước được thực hiện nhân danh nhân dân và đại diện cho lợi ích của toàn xã hội. Song thực tế quyền lực nhà nước xét về bản chất giai cấp, chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một phần là quyền lực xã hội.
Ở một mức độ nhất định quyền lực nhà nước cũng chịu ảnh hưởng từ phía các lực lượng xã hội, tổ chức xã hội. Do vậy, nhà nước hoạt động trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, ngoài ra nó còn phải tính đến lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội. Ngoài chức năng chấn áp, nhà nước còn phải thực hiện chức năng xã hội, tức là Nhà nước phải thực hiện những hoạt động nhằm bảo đảm trật tự an toàn và trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng. Muốn cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách có hiệu qua, phải tim cho nó một cơ chế vận hành phù hợp.
Kiêm chế đối trọng là một nguyên tắc căn bản trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước tư sản. Nhờ có sự tác động của hệ thống kiém chế đối trọng mà có được thế cán bằng quyền lực giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm không có cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực Nhà nước trong tay mình, lấn át hoặc chỉ phối hoàn toàn hoạt động cua các cơ quan khác, đồng thời không có cơ quan nào nằm ngoài sự giám sát, kiểm tra từ phía cơ quan khác. Quyền lực Nhà nước và quyền lực của từng cơ quan đêu bị hạn chế trong một phạm vi nhất định. Tất nhiên, hệ thống kiềm chế.
đối trọng không thể có được trong Nhà nước phong kiến, khi mà mọi quyền lực Nhà nước tập trung trong tay một người đó là một Ông Vua hay một Nữ hoàng. Quyên lực Nhà nước được coi là thẩm quyền và được chiếm giữ theo nguyên tắc thế tập. Vua tự mình đặt ra luật lệ, tự mình tố chức và thực hiện luật lệ đó đồng thời cũng là người phán xét tối cao để bảo vệ pháp luật. Vua là tất cả, Vua là đức tối cao khi đó mọi người không thể nghĩ đến việc kiểm tra xem đức tối cao đó làm đúng hay sai.
Theo Montesquiew : Moi tự do sẽ biến hết cả nếu chính một người hay một tập đoàn các thân hào, quý tộc hay bình dân hành xử cả 3 quyền làm Luật, thi hành Luật và xét xử. Hệ thống kiềm chế đối trọng chỉ có thể có được khi quyền lực Nhà nước được phân chia hay phân công thành 3 quyền năng : lập pháp, hành pháp, tư pháp tức là khi Nhà nước tư sản ra đời. Sự phân chia hay phân công này nhằm mục đích chống sự độc tài trong thực hiện quyền lực Nhà nước, qua đó đảm bảo được quyền tự do của công dân. Song điều đó cũng chỉ có 5 ý nghĩa thực sự khi đảm bảo được tính độc lập và vị trí ngang bằng của ba loại quyền năng lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Bởi vì : "Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viên Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân, quan toà sẽ là người đặt ra Luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan toa sé có cả sức mạnh của kẻ đàn áp" (1) Muốn đảm bảo được tính độc lập và vị trí ngang bằng của các quyền năng lập pháp, hành pháp, tư pháp thì không thể không có sự chuyên môn hoá của các công quyền, tức là mỗi cơ quan công quyền chỉ đảm nhận một chức năng của riêng mình, không xâm lấn sang [inh vực hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác.
Hiện nay đa số các Nhà nước hiện đại đều có sự phân công : Quốc hội (Nghị viện) đảm nhận chức năng lập pháp; Chính phủ (nội các) đảm nhận chức năng hành pháp va Toà án đảm nhận chức năng xét xử. Song nếu chỉ dừng ở việc chuyên môn hóa các công quyền đảm bảo tính độc lập của mỗi quyền mà giữa các cơ quan công quyền không có sự chế ước lẫn nhau, kiểm chế lẫn nhau thì quyền lực Nhà nước ngay lập tức sẽ bị phân tán và không có khả năng thực hiện được. Chính vì vậy, mỗi cơ quan công quyền cần có một phương tiện tương xứng để có thể kiểm tra, chế ước hoạt động của nhau hay nói cách khác các cơ quan công quyền phải được tồn tại trong một hệ thống kiểm chế được Hiến pháp ghi nhận. Một điểm nữa cần phải nói đến đó là ở Nhà nước phân quyền chính cơ chế kiềm chế đối trọng đã là sợi dây liên kết giữa ba quyền : lập pháp, hành pháp, tư pháp làm cho chúng không biệt lập, phân tán mà tồn tại thế cân bằng trong một quyền lực thống nhất là quyền lực Nhà nước.
(1) Trích : Tinh than pháp luật -Montesquieu trang 100 -101 NXB Giáo dục 1996. Như vậy còn có thể hiểu : kiểm chế là sự can thiệp vừa đủ vào tổ chức và hoạt động của nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp để các cơ quan này "đủ sợ" mà làm tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Song sự can thiệp đó phải giữ ở mức không làm mất đi tính độc lập tương đối của từng co quan. Còn đối trọng là sự tương xứng, cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan công quyền cấp cao, có được từ các phương tiện kiểm chế.
Kiểm chế và đối trọng là hai yếu tố không thể tách rời trong tổ chức va hoạt động của những Nhà nước áp dụng nguyên tắc tam quyền phân lập. Các nước khác nhau có sự quy định khác nhau về mức độ can thiệp vào tổ chức và hoạt động của nhau giữa các cơ quan công quyền, ví dụ : cơ quan lập pháp có thể can thiệp vào việc tổ chức bộ máy hành pháp thông qua việc lựa chọn các thành viên của Chính phủ hoặc phê chuẩn sự lựa chọn ấy. Còn đối với hoạt động của Chính phủ, Quốc hội có thể kiểm chế thông qua việc bày tỏ ý kiến của mình với Chính phủ. Quốc hội có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của Chính phủ thông qua hoạt động của các ủy ban điều tra của Quốc hội, qua việc chất vấn các thành viên của Chính phủ hoặc yêu cầu các thành viên của Chính phủ phải điều trần trước Quốc hội về một vấn đề nào đó.
Sự kiểm chế đối trọng của Chính phủ đối với Quốc hội thể hiện qua hoạt động như : triệu tập hoặc bế mạc các khoá họp của Quốc hội, có thể thiết lập Nghị trình của Quốc hội, đề nghị các vấn đề mà Quốc hội sẽ thảo luận hoặc quyết đinh, có thể yêu cầu Quốc hội thảo luận lại một lần nữa dao luật mà Quốc hội đã thông qua, có thể phủ quyết tuyệt đối hoặc hạn chế đối với các đạo luật mà Quốc hội đã thông qua, có thể ban hành hay không ban hành các đạo luật của Quốc hội. Thậm chí có trường hợp Chính phủ có thể giải tán Quốc hội trước thời hạn. Sự kiểm chế của Toà án đối với Quốc hội thể hiện ở chỗ Toà án có thể kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật thường của Quốc hội, nếu Toà án tuyên bố một đạo luật nào đó là bất hợp hiến thì đương nhiên đạo luật đó sẽ vô hiệu vì toà án sẽ không áp dụng nó. Ngược lại sự kiểm chế của Quốc hội đối với Tòa án có thể thông qua việc Quốc hội là cơ quan tối cao, xét xử những vụ án đặc biệt.
Ở những Nhà nước liên bang, kiềm chế đối trọng còn có thể thể hiện trong mối liên hệ giữa liên bang và tiểu bang.