Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VA PHÁP LUẬT VE GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CUA TOA ÁN NHÂN DAN 1. Một số van đề lý luận của giáo dục pháp luật 1. Khái niệm giáo dục pháp luật Khái niệm giáo dục pháp luật hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau. “Giáo dục” được hiểu là “hoat động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh than, thé chất của một đối tượng nào đó, làm cho đổi tượng ấy dan dan có được những phẩm chất và năng lực yêu cau dé ra” [9, tr.
“Pháp luật” được hiểu là “nhiing quy phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bao vệ trật tu xã hoi” [9, tr. Pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống thông qua cơ chế điều chỉnh bao gồm các giai đoạn: ban hành; tuyên truyền giáo dục; tô chức thực hiện; kiểm tra giám sát. Trong cơ chế đó, “yếu tố con người là cơ bản”. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, con người phải suy nghĩ, lựa chọn cách xử sự thể hiện qua hành vi.
Đây là một quá trình tâm lý phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Ở giai đoạn này, quy phạm pháp luật có khả năng tác động lên ý thức của cá nhân như khuyến khích hành vi hợp pháp hoặc kìm chế hành vi bat hợp pháp. Vì vậy, việc phố biến văn bản pháp luật mới chi là điều kiện cần nhưng chưa đủ dé cá nhân hành động phù hợp theo yêu cầu của pháp luật. Điều kiện đủ ở đây là cá nhân phải có ý thức pháp luật đúng đắn, ý thức đó phải được hình thành dưới sự tác động liên tục, thường xuyên của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan dẫn đến hành vi hợp pháp của cá nhân.
Cho nên xây dựng luật, công bố luật xong cũng cần phải tuyên truyền, GDPL mới là giải pháp lâu dài, bảo đảm thi hành của các văn bản quy phạm pháp luật. Khái niệm GDPL cần phải được xem xét toàn diện trên cả phạm vi nghĩa rộng và nghĩa hẹp, cụ thé như sau: Theo nghĩa hẹp: GDPL là hoạt động có ý thức, có mục đích và định hướng của con người tác động lên khách thể giáo dục. Theo cách hiểu này thi sự tác động hay ảnh hưởng của các nhân tố không phải do con người thực hiện không thuộc nội hàm của GDPL. Theo nghĩa rộng: GDPL là quá trình ảnh hưởng của những điều kiện khách quan (chế độ xã hội, môi trường song, điều kiện kinh tế.) va sự tác động của nhân tố chủ quan (tác động có định hướng của con người như giáo dục của gia đình, thầy, cô, bố, me,.) lên đối tượng giáo dục.
Trong thực tiễn, tuy thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiện khách quan là to lớn đối với việc hình thành ý thức cá nhân con người, các nhà lý luận, các nhà khoa học vẫn nhắn mạnh đến yếu tô tác động hàng đầu, cực kỳ quan trọng, thậm chí mang yếu tô quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo dục. Từ những quan niệm trên, GDPL trước hết là một hoạt động mang day đủ tính chat chung của giáo dục nhưng cũng có những nét đặc trưng dé tác động lên ý thức con người. Trong hoạt động này, con người nói chung là khách thé (hay đối tượng) chịu ảnh hưởng và tác động của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đề hình thành nên ý thức, tình cảm và hành vi pháp luật. Hoạt động GDPL chính là sự tác động của nhân tổ chủ quan mà trước hết là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định thành một hệ thống của nhiều chủ thé.
Còn sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan. Sự phân biệt hai phạm trù này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ tạo ra khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của hoạt động GDPL. Thực tiễn đã chỉ ra răng nếu “thả lỏng” việc GDPL thì các nhân tố tiêu cực như: hiện tượng vi phạm pháp luật, phạm tội chưa được xử lý nghiêm minh; hiện tượng nhận hôi lộ, tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức sẽ có điêu kiện tác động phản giáo dục rất mạnh lên nhận thức, tình cảm, lòng tin vào pháp luật của công dân. Từ đó, có thé hình thành loại ý thức pháp luật ngược với mục tiêu của nên pháp chế và là cơ sở cho các hành vi vi phạm pháp luật tăng lên.
Ngược lại, nếu xác định đúng đắn các yếu tố của GDPL như nội dung, hình thức, phương pháp. và định hướng chúng ngay trong các hoạt động của thực tiễn pháp luật phù hợp với yêu cầu từng giai đoạn, từng thời kỳ thì sẽ giảm bớt được tác động của các tiêu cực, giúp cho đối tượng được giáo dục có ý thức pháp luật vững vàng, có khả năng phân tích, phê phán một cách đúng đắn về hiện thực pháp luật trong quá trình vận động của nó, từ đó có thái độ và hành động phù hợp với pháp luật. Như vậy, tác gia đã chỉ ra mối quan hệ giữa cái riêng, cái đặc thù của GDPL với cái chung, cái phổ biến của giáo dục. GDPL vừa mang những đặc điểm chung của giáo duc, sử dụng các hình thức phương pháp của giáo dục nói chung, vừa thê hiện những nét đặc thù riêng có của mình trong mối liên hệ chặt chẽ với các loại hình giáo dục khác như giáo dục chính trị, đạo đức.
Tính đặc thù của GDPL thê hiện ở cả mục đích, nội dung và ở cả hình thức, phương pháp. Nét đặc thù của GDPL khác tương đối với các dạng giáo dục khác ở 03 (ba) điểm: (i) GDPL có mục đích riêng của mình, đó là hoạt động nhằm hình thành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật; (i) GDPL có nội dung riêng, đó là sự tác động định hướng với nội dung cơ bản là truyền tải tri thức của nhân loại nói chung, của một nhà nước nói riêng về hai hiện tượng nhà nước và pháp luật. Trong đó, pháp luật thực định hiện hành cua Nhà nước là bộ phận vô cùng quan trong; (iii) Xét trên các yếu tố chủ thé, khách thé, đối tượng, hình thức và phương pháp giáo dục cũng có thé chỉ ra các nét đặc thù của GDPL. Chang hạn, GDPL so với các dạng giáo dục khác, đó là quá trình tác động liên tục, thường xuyên, lâu dài chứ không phải là sự tác động một lần của chủ thé lên đối tượng giáo dục.
Vì thế, GDPL trở thành sợi chỉ đỏ xuyên nối qua gia đình, nhà trường, các tập thể lao động, các tổ chức Dang, Nhà nước, các đoàn thé xã hội. Nhân tố con người với hành vi hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đối tượng). Người được giáo dục là người chịu sự tác động có tô chức, có định hướng các thông tin pháp luật. Vì vậy, sự hiểu biết về trình độ, đặc điểm nhân thân của người được giáo dục là đòi hỏi hàng đầu đối với người giáo dục.
Đồng thời, người GDPL cần phải năm vững tri thức pháp luật, biết cách chuyền tải nó và hơn thế nữa phải là tam gương, phải là hình mau trong việc tuân theo pháp luật. Bởi vì trong GDPL thì nguyên tắc “làm gương”, “làm mẫu”, có ảnh hưởng to lớn đối với người được giáo dục. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thê hiểu “giáo dục pháp luật” là: hoạ động có định hướng, có tổ chức, có chủ dich nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hỏi của hệ thong pháp luật hiện hành, góp phan nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ pháp luật của nhân dân. Với khái niệm “giáo dục pháp luật” như đã nêu trên, GDPL trước hết là một hoạt động giáo dục có mục đích, có tô chức, có định hướng nhằm tác động đến đối tượng giáo dục tri thức pháp luật, tình cảm, ý thức tuân thủ pháp luật hiện hành.
GDPL được tiến hành bởi nhiều chủ thể khác nhau do vai trò chức năng nhiệm vụ của các chủ thé quy định, các chủ thể có thé là cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân và được thực hiện băng nhiều hình thức, phương pháp. cách thức khác nhau. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, việc trang bị tri thức pháp luật, xây dựng tình cảm và thói quen pháp luật cho mọi công dân là trách nhiệm của cơ 10 quan nhà nước, tô chức chính tri, tô chức chính trị xã hội. Trong đó, trước hết thuộc về hệ thống các cơ quan có chức năng giáo dục đào tạo nói chung và các cơ quan có chức năng GDPL của Nhà nước nói riêng.
GDPL là một trong những mắt xích quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, GDPL là nhằm hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật cho mọi công dân, nhằm phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật * Nội dung giáo duc pháp luật Bản thân cụm từ đã thể hiện những nội dung giáo dục, tuy nhiên, vì cần quan tâm đến đối tượng và hình thức tuyên truyền ở đây là thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, nên nội dung GDPL ở đây còn bị chi phối bởi nội dung hoạt động xét xử của Tòa án. Hiện nay, đa phần quan điểm của các nhà xây dựng luật tại Việt Nam cho rằng có 03 (ba) nhóm nội dung GDPL sau: (i) Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đăng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; (ii) Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thoả thuận quốc tế; (iii) Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật.