Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ 1. Khái niệm, mục đích, vai trò của giáo dục pháp luật 1. Khái niệm giáo dục Giáo dục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sông xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hộiinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người.
Giáo dục được hiểu dưới hai góc độ: (1) Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất; (2) Giáo dục được như là một hoạt động xã hội, dạng tái sản xuất ra lực lượng lao động mới. Ở đây, đối tượng là thế hệ trẽ, là tập hợp các đối tượng đơn nhất. Giáo dục là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động; Khi nói đến giáo dục theo nghĩa rộng, là ta thường liên tưởng ngay đến cụm từ "giáo dục theo nghĩa hẹp và đào tạo". Giáo dục theo nghĩa hẹp, là một quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - nhằm tác động vào hệ thống nhận thức của người đó, để làm phát triển trí thông minh, phát triển khả năng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan, và làm phát triển nhận thức của người đó lên; qua đó tạo ra một con người mới, có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là nuôi dưỡng, làm cho phát triển hoặc triệt tiêu, giảm cái có sẵn. Ví dụ như trí thông minh căn bản là cái có sẵn, tính thiện là cái có sẵn,. Giáo dục làm tăng trưởng trí thông minh căn bản, và tính thiện lên. Ðào tạo là một quá trình truyền thụ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - vào người đó, nhằm tạo ra một số sự nhận thức, một số kỹ năng 9 hoạt động phù hợp với yêu cầu của công việc, và phát triển chúng nó lên bằng cách rèn luyện.
Công việc này có thể là hoạt động trí não, hay hoạt động chân tay. Đào tạo là tạo ra cái mới hoàn toàn, chứ không phải là cái có sẵn. Ví dụ chữ viết, những kiến thức về toán học, các kỹ năng về tay nghề, các thế võ,. Ban đầu chúng hoàn toàn chưa có nơi một con người.
Chỉ sau khi được huấn luyện, đào tạo thì chúng mới có ở nơi ta. Ví dụ: học sinh được dạy học môn toán, để có kỹ năng tính toán. Một nhà khoa học được đào tạo, để có các kỹ năng nghiên cứu khoa học. Một vị Tu sĩ được dạy cách ngồi thiền, để có thể ngồi thiền tu tập sau này.
Một người công nhân, được đào tạo tay nghề, để có thể làm việc sau này. Tuy rằng, không phải là đào tạo, nhưng muốn giáo dục thành công thì cần phải thông qua công tác đào tạo. Vì vậy chúng có mối liên hệ rất mật thiết với nhau. Cho nên khái niệm giáo dục ở đây được hiểu bao gồm cả giáo dục và đào tạo.
[52] Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội. Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại.
Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội. Khái niệm Pháp luật Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Như vậy, khái niệm pháp luật được thể hiện bằng 4 ý cơ bản sau đây: Thứ nhất, pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung; 10 Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến. Tức là nói đến tính khuôn mẫu, mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến chung.
Trong xã hội không chỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm. Đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các điều lệ của các tổ chức chính trị – xã hội và đoàn thể quần chúng đều có tính quy phạm. Cũng như pháp luật, tất cả các quy phạm trên đều là khuôn mẫu, quy tắc xử sự của con người. Nhưng khác với đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quy phạm của pháp luật mang tính phổ biến.
Đây chính là dấu hiệu để phân biệt pháp luật và các loại quy phạm nói trên. Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ: - Là khuôn mẫu chung cho nhiều người. - Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn. - Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện thống nhất.
Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ: + Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người. Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật. + Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng các quy tắc đó. + Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện.
Thứ hai, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận; Ngoài việc ban hành Nhà nước còn có thể thừa nhận những tập quán trong xã hội bằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn. Thứ ba, đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước; Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được 11 các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội. Thứ tư, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích giai cấp mình. Cũng giống như bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp.
Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Ý chí của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Khái niệm giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị.) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Giáo dục pháp luật là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản của Nhà nước với sự tham gia của các thiết chế xã hội, tuy rằng cách quan niệm và hình thức thực hiện có sự khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc.
Trong khoa học pháp lý nói riêng, giáo dục pháp luật là một trong những phạm trù cơ bản, ngày càng được quan tâm nghiên cứu trên nhiều phương diện, đặc biệt là từ phương diện xây dựng văn hóa pháp luật. Trên phương diện lý luận và thực tiễn, từ trước đến nay, đã có khá nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng. Giáo dục pháp luật chính là sự truyền tải thông tin pháp luật có định hướng mục đích: nâng cao ý thức pháp luật, hình thành lối sống tuân thủ pháp luật trong Nhân dân.1 [54] Giáo dục pháp luật là phạm trù có nội hàm rộng lớn, bao gồm cả tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Tính bao quát của giáo dục pháp luật thể hiện ở chỗ, giáo dục pháp luật vừa có tính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống để bảo đảm 1 : Đào Trí Úc (chủ biên): Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 12 đối tượng giáo dục được nâng cao về kiến thức, tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật, niềm tin và kỹ năng thực hành pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật. Khái niệm “phổ biến, giáo dục pháp luật” chính thức được sử dụng trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3 ngày 20- 6-2012. Giáo dục pháp luật là phạm trù có nội hàm rộng lớn, bao gồm cả tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Tính bao quát của giáo dục pháp luật thể hiện ở chỗ, giáo dục pháp luật vừa có tính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống bao gồm các hoạt động cung cấp tri thức, thông tin, kỹ năng pháp luật, xây dựng cho các đối tượng xã hội ý thức, tình cảm, thái độ tôn trọng pháp luật và niềm tin pháp luật. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác này càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt.