Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất xứ hàng hóa. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất xứ hàng hóa. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XUẤT XỨ HÀNG HÓA 1.
Khái quát chung về xử lý vi phạm hành chính Xã hội vận động và phát triển luôn tiềm ẩn và tồn tại những vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luật hành chính nói riêng. Các vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng xuất phát từ hành vi do con người thực hiện trái với các quy định của pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, hành vi trái pháp luật đó chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện. Theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của mỗi loại vi phạm này và đối tượng điều chỉnh của mỗi đạo luật trong hệ thống pháp luật, có thể chia các vi phạm pháp luật thành các loại vi phạm khác nhau, như: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự,. trong đó, vi phạm pháp luật hình sự là hành vi có tính chất nguy hiểm nhất cho xã hội, những vi phạm pháp luật hành chính là một loại vi phạm xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, rất đa dạng, phong phú trong hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Thuật ngữ “vi phạm hành chính” được luật định khá sớm, lần đầu được quy định tại Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý hành chính nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và 2002 không quy định thế nào là vi phạm hành chính. Năm 2012 với việc Quốc hội thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 vi phạm hành chính được hiểu là: Hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm quy định của 8 pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, bàn về khái niệm nêu trên, nhận thấy còn một số bất cập như việc sử dụng cụm từ “vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước” chỉ nói lên được tính trái luật của hành vi; quy định các hành vi vi phạm hành chính thì phải bị xử phạt vi phạm hành chính cũng không chính xác về mặt khoa học, bởi thực tế khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật thì không những họ phải chịu những hình thức “xử phạt” mang tính trừng phạt của nhà nước mà họ còn phải thực hiện các biện pháp “khắc phục hậu quả”, tức buộc chủ thể vi phạm phải khôi phục lại trật tự ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm của họ gây ra (biện pháp khôi phục).
Tại cuốn Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam do PGS.TS Nguyễn Cửu Việt chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013 đã đưa ra khái niệm vi phạm hành chính với cách tiếp cận rộng và phù hợp với khoa học hơn. Theo đó vi phạm hành chính được hiểu là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [16, tr 393]. Tại thời điểm hiện tại, không có văn bản nào quy định về khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”. Theo khái niệm nêu trên thì chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm hành chính - là hậu quả của vi phạm hành chính, thể hiện ở sự áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền những chế tài pháp luật hành chính đối với chủ thể vi phạm 9 hành chính theo thủ tục do luật hành chính quy định [16, tr.
Theo lý luận về trách nhiệm hành chính thì có hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính là các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khôi phục các quyền và lợi ích đã bị vi phạm hành chính xâm hại [16, tr. Tiếp nhận lý luận nêu trên, tác giả đưa ra quan điểm về xử lý vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp pháp khắc phục hậu quả, cũng như toàn bộ các biện pháp tiến hành trong thủ tục xử lý theo một trình tự, hình thức do pháp luật xử lý hành chính quy định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính. Xuất xứ hàng hóa và quản lý nhà nƣớc về xuất xứ hàng hóa Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa. Khi nền kinh tế phát triển, giao lưu buôn bán quốc tế được mở rộng, hàng hóa sản xuất ra không chỉ để sử dụng trong một nước mà có sự trao đổi buôn bán giữa các nước trên toàn thế giới.
Điều này dễ dẫn đến nảy sinh tranh chấp thương mại giữa các nước. Để bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan, một trong các vấn đề cần thiết là phải làm rõ địa điểm (hay quốc gia) mà hàng hóa được nuôi trồng, sản xuất, chế biến hoặc gia công. Hay nói cách khác, khái niệm xuất xứ hàng hóa ra đời là yếu tố quan trọng tất yếu của quá trình thuận lợi hóa thương mại quốc tế. Cách hiểu “xuất xứ hàng hóa” lần đầu được nhắc đến tại Phụ lục Chuyên đề K Công ước Kyoto sửa đổi như sau: “Nước xuất xứ của hàng hóa là nước tại đó hàng hóa được chế biến hoặc sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn được đặt ra nhằm mục đích áp dụng trong biểu thuế hải quan, những hạn chế về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”.
Theo đó, để xác định được xuất xứ hàng hóa cần phải căn cứ 10 tiêu chuẩn được đặt ra mà không có một chuẩn mực chung nào được áp dụng cho tất cả các nước. Có thể thấy, một số nước có quy định khá rõ về việc ghi nước sản xuất hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng cần bảo hộ hoặc đã xây dựng được thương hiệu mang tầm quốc tế, ví dụ: Thụy sĩ quy định đối với mặt hàng đồng hồ, Hoa kỳ quy định đối với mặt hàng ô tô, dệt may, len, New Zealand quy định đối với mặt hàng rượu vang. Đối với các nước đã có quy định về ghi xuất xứ thì các loại hàng hóa này bắt buộc phải đáp ứng đủ các tiêu chí xuất xứ theo quy định mới được lưu thông trên thị trường [34]. Khái niệm xuất xứ hàng hóa Trước khi tìm hiểu về xuất xứ hàng hóa, cần tìm hiều về thuật ngữ “quy tắc xuất xứ hàng hóa”.
Thuật ngữ quy tắc xuất xứ hàng hóa dùng để chỉ tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nơi sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ hàng hóa) [16, tr 25]. Việc xác định quy tắc xuất xứ hàng hóa có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi lẽ không có quy tắc xuất xứ sẽ không xác định được xuất xứ hàng hóa và sẽ không có cơ sở để áp dụng các công cụ chính sách thương mại đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu. Theo Điều 3(b) Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO, “một nước được xác định là nước xuất xứ của một hàng hóa cụ thể nếu như hàng hóa được hoàn toàn sản xuất ra ở nước đó hoặc khi nhiều nước cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó, thì nước xuất xứ hàng hóa là nước thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng”. Việc xác định xuất xứ hàng hóa, nhất là khi hàng hóa được sản xuất bởi nhiều quốc gia khác nhau, cần phải dựa trên các điều kiện, tiêu chí và cách xác định xuất xứ cụ thể.
Tùy thuộc vào bộ quy tắc xuất xứ được áp dụng trong từng trường hợp, một hàng hóa có thể được coi là có hoặc không có xuất xứ tại chính quốc gia này. 11 Thực tế, hiện nay có nhiều sản phẩm được sản xuất theo các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn thực hiện ở một nước nhằm tận dụng những lợi thế liên quan của nước đó. Vì vậy, nếu không có quy tắc xuất xứ thì không thể xác định được xuất xứ thực chất của các hàng hóa này để từ đó áp dụng quy chế đặc biệt liên quan như hàng hóa có thể được hưởng các chế độ thuế quan khác nhau gồm chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, chế độ ưu đãi thuế quan trong các Hiệp định thương mại tự do hoặc thuế chống bán phá giá. Khái niệm “xuất xứ hàng hóa” tại Việt Nam lần đầu tiên được giải thích cụ thể tại Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 quy định chi tiết Luật này về xuất xứ hàng hóa, theo đó: Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó.
Nghị định số 19/2006/NĐ-CP cũng quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về xuất xứ hàng hóa của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) và Bộ Tài chính. Luật Quản lý ngoại thương và các văn bản hướng dẫn thi hành tiếp tục khẳng định lại khái niệm xuất xứ hàng hóa đã được giải thích tại Luật Thương mại 2005.