Chương 1: Yên Bình, miền đất, con người và truyền thống văn hóa Chương 2: Hệ thống truyền thuyết huyện Yên Bình Chương 3: Lễ hội dân gian các dân tộc huyện Yên Bình 7. Những đóng góp của luận văn Luận văn là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu khảo sát, mô tả một cách chi tiết, hệ thống, truyền thuyết và lễ hội vùng Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Lần đầu tiên những thành tựu lý luận khoa học của chuyên ngành Văn học dân gian đã được vận dụng vào việc nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội vùng Yên Bình và lễ hội đền Thác Bà Tác giả luận văn muốn khẳng định vị trí quan trọng của truyền thuyết và lễ hội huyện Yên Bình, trong đó có truyền thuyết và lễ hội đền mẫu Thác Bà trong đời sống tinh thần của người dân Yên Bình nói riêng và người dân Yên Bái nói chung, từ đó người viết mong muốn được góp phần gìn giữ và giới thiệu vốn văn hoá của địa phương mình. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 YÊN BÌNH, MIỀN ĐẤT, CON NGƢỜI VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA Trong phạm vi cho phép của đề tài, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào mọi vấn đề thuộc điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội của huyện Yên Bình nói riêng cũng như tỉnh Yên Bái nói chung mà chỉ đi vào tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự hình thành hệ thống truyền thuyết và lễ hội dân gian của huyện Yên Bình.
Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi tập trung vào những vấn đề sau: vùng đất, con người và văn hóa, văn học dân gian của huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái. Huyện Yên Bình - quá trình hình thành và phát triển 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Yên Bái. Trung tâm huyện cách thành phố Yên Bái 8 km về phía Đông Nam, cách thủ đô Hà Nội 170Km về phía Tây Bắc, phía Đông Nam giáp huyện Đoan Hùng của tỉnh Phú Thọ, phía Tây Nam giáp thành phố Yên Bái, phía Tây Bắc giáp thành phố Yên Bái, huyện Trấn Yên và Huyện Văn Yên, phía Đông Bắc giáp huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp huyện Lục Yên.
Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 70 từ Hà Nội đi Yên Bái và đi Lào Cai chạy qua trung tâm và một số xã của huyện. Huyện Yên Bình có tổng diện tích tự nhiên là 77.319,67 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 57.690,43 ha chiếm 74,61% tổng diện tích tự nhiên. Yên Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,90C. Lượng mưa bình quân hàng năm là 2.121,2mm, số ngày mưa trung bình là 136 ngày, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm.
Độ ẩm trung bình là 37% và không có sương muối. Do đặc điểm là huyện có diện tích mặt nước nhiều (hồ Thác Bà trên 15.000 ha) nên khí hậu vùng này mang tính chất vùng hồ: mùa đông ít lạnh, mùa hè mát mẻ, thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp, trồng rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu; trồng cây công nghiệp chè, cao su, cây ăn quả và là tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản, phát triển du lịch dịch vụ. c 11 Địa hình của huyện Yên Bình khá phức tạp, với đặc điểm địa hình chuyển tiếp từ Trung du lên miền núi, địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc được tạo bởi hai dãy núi: Cao Biền nằm phía tả ngạn sông Chảy (phía Đông hồ Thác Bà) và Con Voi nằm phía hữu ngạn sông Chảy( phía Tây hồ Thác Bà ). Đặc trưng khí hậu của Yên Bình là nhiệt đới gió mùa (nóng, ẩm, thay đổi trong nhiều mùa).
Bên cạnh những thuận lợi lớn làm cho các giống, loài phát triển nhanh chóng và phong phú, tạo nên tính đa dạng sinh học trong vùng địa phương còn gánh chịu nhiều hậu quả do đặc điểm thời tiết gây ra. Mùa đông, nhiều đợt rét buốt tràn về, gây ra sương muối tác hại cho cây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Mùa hè, tuy bão tố không ảnh hưởng nhưng gió lốc thường xuất hiện, phá mùa màng và nhà cửa. Chế độ thuỷ văn của Yên Bình đặc biệt phong phú nhờ có sông Chảy, hồ Thác Bà cùng hệ thống sông suối dày đặc.
Sông Chảy là một phụ lưu lớn của sông Lô - còn gọi là Trôi Thuỷ hoặc sông Đạo Ngạn, hàng năm sông Chảy vận chuyển 5,3 tỷ m3 nước từ Minh Chuẩn ( Lục Yên) qua hồ Thác Bà tới Hán Đà với nhiều ghềnh thác tạo nguồn thuỷ văn lớn. Hồ Thác Bà có diện tích 23.400ha, trong đó mặt nước chiếm tới 19.331 hòn đảo lớn nhỏ, chiều dài của hồ là 80 km, chiều rộng từ 5-15km, sâu từ 15- 34m, chứa được 3-3,9 tỷ mét khối nước. Ngoài sông Chảy, còn có hệ thống suối ngòi lớn nhỏ đổ vào hồ như ngòi Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà, ngòi Lòi, ngòi Dầu, ngòi Cát, ngòi Úc, ngòi Biệc… chứa lượng phù sa và thức ăn cho thủy sinh vật phát triển. Hồ có 130 loài cá tự nhiên có giá trị kinh tế cao (trôi, chép, măng, ngão, quả, vền, nhưng, ngạnh, chiên, lăng, quất, bống tượng…) tạo nguồn đặc sản xuất khẩu (ba ba, trê phi, trê lai, lươn, ếch).
Hơn thế nữa, hồ Thác Bà có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ và cải tạo môi trường, làm giảm nhiệt độ mùa hè xuống 1-200C, tăng độ ẩm tuyệt đối mùa khô lên 20% và lượng mưa từ 1.700mm, tạo điều kiện cho thảm thực vật xanh tốt 4 mùa, rất thích nghi cho nghề trồng chè năng suất cao. Đây còn là nguồn thuỷ năng đối với nhà máy thuỷ điện Thác Bà công suất 108. Lịch sử hình thành Huyện Yên Bình xưa kia là một vùng của nước Văn Lang, rồi thuộc Tượng Quận, Giao Chỉ. Vào thời Trần, huyện Yên Bình ngày nay là trại Thu Vật thuộc châu c 12 Tuyên Quang.
Sang thời Lê, được nâng cấp thành châu lệ vào phủ Yên Bình, trấn Tuyên Quang. Một thời của châu Thu Vật được ghi nhận đậm nét trong Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí. Sơ lược như sau : Suốt hai thế kỷ XVII - XVIII, Đại Đồng trở thành trấn lỵ khi Gia Quốc Công Vũ Văn Mật nối quyền cai trị. Sách Đại việt sử ký toàn thư có chép: "Nhờ có tài linh dinh khôn khéo của anh em họ Vũ, xứ Đại Đồng trở thành một miền trù mật.
Nhân dân các trấn miền xuôi trốn loạn đến đó làm ăn rất đông. Đồng thời nhiều thương nhân đến đấy buôn bán lâm sản". Khi đó, Nguyễn Hãng đã mô tả cảnh sắc nơi đây qua bài Phú Phong cảnh Đại Đồng như sau: " Chưng xem: Đặc khí thiêng liêng Nhiều nơi thanh lạ Non Xuân Sơn cao thấp triều tây Sông Trôi Thuỷ quanh co nhiễu tả Nghìn tay chìa cánh phượng, dựng thuở hư không Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá Đùn đùn non yên ngựa, mấy trượng khoẻ thế kim thang Cuồn cuộc thác Con Voi, chín khúc bền hình quan toả" Toàn bộ diện mạo Phố Cát - Đại Đồng đã hiện lên với ―lâu đài kề nước; Hây hây ngõ hạnh tường đào ra nơi thành thị, ô dù ngựa xe dong đường thiên lý, đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, khắp nơi ca xướng thái bình‖. Nói về thời kỳ này sách Đại nam nhất thống chí đã ghi nhận: "Phố Đại Đồng người đông hàng nhiều, buôn bán tấp nập, gạo trắng nước trong, cũng là nơi đô hội".
Trong ký ức dân gian cũng lưu lại bóng dáng của Yên Bình ngày xưa: c 13 -“Nhiều tiền chợ Ngọc chợ Ngà Ít tiền lơ lửng Thác Bà, Thác Ông”. -“Muốn ăn gạo trắng nước trong Thì lên phố Cát Đại Đồng cùng anh”. -“Nhiều tiền thì buôn sông Cả Ít tiền buôn ngả sông Thao Chẳng có đồng nào thì về sông Chảy…” Một thế mạnh nữa của Yên Bình là người dân địa phương có truyền thống cách mạng, yêu nước, cần cù lao động và ham học hỏi. Nhân dân Yên Bình luôn một lòng theo Đảng, nhờ vậy đây là địa phương luôn giữ vững ổn định chính trị, kinh tế xã hội.
Đặc điểm dân số, văn hóa và tôn giáo, tín ngưỡng Yên Bình có dân số là 107.398 người, lực lượng lao động xã hội 45.037 người, trong đó lực lượng lao động nông thôn chiếm 76,5%. Trên địa bàn huyện có 5 dân tộc chính là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan (Sán Chay) sống xen kẽ với nhau từ lâu đời. Mật độ dân cư bình quân toàn huyện là 139 người dân/km2, nhìn chung sự phân bố dân cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các xã hạ huyện và thị trấn huyện lỵ, riêng xã vùng cao Xuân Long chỉ có 49,1 người/km2. Đồng bào các dân tộc trong huyện đoàn kết, cần cù lao động, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Hiện nay, Yên Bình vẫn là một huyện có đông các dân tộc cùng chung sống. Người Kinh chiếm khoảng 52% cư dân của huyện, theo sách ―Kiến văn tiểu lục‖ - tập 2 của Lê Quý Đôn thì từ 1533 anh em người Kinh ở Gia Lộc (Hải Dương) là Vũ Văn Mật và Vũ Văn Uyên phù Lê chống Mạc đã chạy lên Thu Vật (huyện Yên Bình ngày nay). Sau đó, Vũ Văn Mật xưng là Chúa Bầu tập hợp người dân tộc thiểu số và người Kinh khắp các nơi xây thành đắp lũy, trấn ải một vùng. Trước đó năm 1285 tướng quân Trần Nhật Duật đời Trần đã chỉ huy đội quân chiến đấu chống quân Nguyên - Mông trên đất Thu Vật.
Như vậy, người Kinh định cư ở Yên Bình từ rất sớm, với đồng bào các dân tộc thiểu số, bên cạnh những nét văn hóa riêng của họ ở miền xuôi, người Kinh cũng giao lưu, tiếp thu văn hóa của các dân tộc ít người cùng cư trú trên địa bàn. Điều đó được thể hiện qua văn hóa ẩm thực, nhà ở, lễ hội. c 14 Người Tày chiếm khoảng 15% dân số, tập trung đông đúc nhất ở các xã dọc hai bên bờ sông Chảy thuộc huyện Yên Bình và Lục Yên. Tiếng Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ( Dòng ngôn ngữ Nam Á).
Người Tày nổi bật với trang phục bằng vải bông nhuộm chàm đen. Phụ nữ Tày thường xuyên đội khăn nhuộm chàm, khăn vuông gấp xéo, có hai đài vải đỏ buộc về phía trước trán, đuôi khăn lật về phía sau; mặc áo dài năm thân có thắt lưng bằng vải chàm gấp lại buộc phía sau, đi đôi với váy trong dịp cưới, ngày lễ tết.