Chương 1. Cơ sở hình thành liên minh chiến đấu giữa vùng tự do Liên khu V (Việt Nam) và Hạ Lào trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Quân dân vùng tự do Liên khu V (Việt Nam) và Hạ Lào liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp (1945 - 1954). Đặc điểm, vai trò, bài học kinh nghiệm của liên minh chiến đấu giữa vùng tự do Liên khu V (Việt Nam) và Hạ Lào trong kháng chiến chống Pháp (1945- 1954).
CƠ SỞ HÌNH THÀNH LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU GIỮA VÙNG TỰ DO LIÊN KHU V (VIỆT NAM) VÀ HẠ LÀO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954) 1. Khái quát về vùng tự do Liên khu V và Hạ Lào 1. Vùng tự do Liên khu V 1. Điều kiện tự nhiên Vùng tự do Liên khu V nằm tại duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, trải dài từ Nam Quảng Nam, qua Quảng Ngãi, Bình Định đến hết Phú Yên, với tổng diện tích là 23.
Khu vực miền Nam Trung Bộ có gần 700km đường biên giới giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia, trong đó tiếp giáp với khu vực Hạ Lào gần 288km và giáp với khu vực Đông Bắc Campuchia 473km. Phía Bắc giáp vùng địch tạm chiếm (Bắc Quảng Nam), phía Nam giáp vùng địch tạm chiếm Khánh Hòa, phía Tây giáp vùng địch tạm chiếm Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông. Tổng chiều dài vùng tự do Liên khu V là 50km, chiều ngang chỗ rộng nhất 125km (Quảng Nam), chỗ hẹp nhất 50km (Phú Yên). Địa hình vùng tự do Liên khu V đa dạng bao gồm các vùng rừng núi, trung du và đồng bằng ven biển.
Vùng rừng núi và trung du (bao gồm miền Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) chiếm 2/3 tổng diện tích vùng tự do, có địa thế hiểm trở, nối liền với vùng rừng núi Tây Nguyên. Do cấu tạo địa chất, hệ thống núi, đèo của bốn tỉnh vùng tự do cũng khá đa dạng. Phía Tây Quảng Nam, chạy dọc theo dãy Trường Sơn có các đỉnh núi cao, như Lum Heo (2. Phía Nam của tỉnh còn có dãy núi Chúa là ranh giới phân chia hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.
e 11 Núi rừng miền Tây Quảng Ngãi rộng lớn, tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô sát biển, ôm chặt lấy đồng bằng. Phía Bắc của tỉnh có đỉnh Cà Đam cao 1.650m gắn với vùng rừng núi Bình Định. Dãy Trường Sơn trải dài từ miền Tây Quảng Nam đến địa phận tỉnh Bình Định, hình thành một vòng cung lớn, bao quanh cả ba mặt Bắc, Tây và Nam của tỉnh với nhiều dãy núi nhô ra sát biển như dãy núi Đá Lửa, núi Lo, núi Lớn, núi Đông Song. Ngọn núi cao nhất là núi Bà (1.
Ở phía Bắc của tỉnh Bình Định có đèo Bình Đê - là ranh giới phân chia hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Vùng rừng núi Phú Yên hiểm trở, chiếm ¾ diện tích tự nhiên của tỉnh, có nhiều ngọn núi cao như La Hiên (1.470m), dãy núi Cù Mông (có đèo Cù Mông) ở phía Bắc và dãy Chủ Mủ (có đèo Cả) ở phía Nam, là hai nhánh của dãy Trường Sơn chạy thẳng đến biển, hình thành ranh giới tự nhiên với tỉnh Bình Định ở phía Bắc và tỉnh Khánh Hòa ở phía Nam. Khắp địa bàn bốn tỉnh vùng tự do, xen kẽ các vùng đồng bằng, rải rác nổi lên những núi đồi, gò có rừng rậm hoặc rừng chồi ở bình độ từ 40m -500m. Nhìn chung, vùng rừng núi và trung du có địa thế hiểm trở, giao thông liên lạc không thuận tiện, nhưng có vị trí thuận lợi để xây dựng căn cứ kháng chiến, vận dụng chiến thuật trong tác chiến đánh địch của các lực lượng vũ trang cách mạng, nhất là trong thời kỳ đầu mới xây dựng.
Vùng rừng núi và trung du bốn tỉnh còn giàu về lâm thổ sản, như gỗ, quế, chè, cau… và nhiều loại cây thuốc quý, có nguồn thủy năng và khoáng sản đáng kể. Vùng đồng bằng ven biển tuy nhỏ hẹp, bị sông ngòi, đồi núi chia cắt thành nhiều mảng, song đó là những cánh đồng lớn của miền Trung, chỉ sau Thanh Hóa và Nghệ An. Đặc biệt ở hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, đất đai khá màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, như lúa, hoa màu (khoai mì, khoai lang) và các loại cây công nghiệp như: bông, dâu mía, đậu phụng, dừa, e 12 cói. Nhiều cánh đồng lúa như các huyện Hoài Nhơn, An Nhơn, Tuy Phước (Bình Định); Tuy Hòa, Tuy An (Phú Yên); Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi); Điện Bàn, Đại Lộc (Quảng Nam).
mỗi năm thường gieo cấy hai vụ lúa (vào tháng 3 và tháng 8). Vùng đồng bằng ven biển có vai trò quan trọng, dân cư đông đúc, có nhiều thị xã thị trấn, là nơi tập trung nhân lực vật lực của Nam Trung Bộ như: Hà Lam, Tam Kỳ (Quảng Nam), sông Vệ (Quảng Ngãi), Bồng Sơn, Đập Đá (Bình Định), sông Cầu, Tuy Hòa (Phú Yên), là những trung tâm giao lưu, buôn bán, trao đổi hàng hóa và sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp của vùng tự do. Hàng năm, nếu không bị thiên tai, địch họa, riêng sản xuất lúa và hoa màu của bốn tỉnh đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho địa phương và còn dư thừa. Đây là một đặc điểm thuận lợi cho việc phát huy vai trò hậu phương kháng chiến của bốn tỉnh.
Hệ thống sông, suối ở vùng tự do hầu hết đều bắt nguồn từ vùng rừng núi miền Tây của bốn tỉnh, chảy theo chiều Tây - Đông, vừa là nguồn cung cấp nước tưới tiêu chủ yếu cho nông nghiệp, vừa tạo ra mạng lưới giao thông nội địa khá thuận tiện. Ở Quảng Nam có các con sông Thủy Tú, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Thu Bồn, Trường Giang… Lớn nhất là sông Thu Bồn bắt nguồn từ Chiên Đàn và đổ ra biển. Với cấu tạo dòng sông rộng và sâu nên thuyền bè đi lại dễ dàng. Sông Thu Bồn nối liền hai miền xuôi ngược, nối liền sự giao lưu kinh tế giữa các thị xã Tam Kỳ, Hội An, thị trấn Vĩnh Điện với thành phố Đà Nẵng.
Các con sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ, sông Rin (Quảng Ngãi)… tuy về mùa mưa sức nước hung dữ, nhưng cũng có vai trò quan trọng giao thông vận tải nội tỉnh. Ở Bình Định, ngoài bốn con sông nhỏ là An Trường, Hà Thanh, La Tinh và Tam Quan còn có hai sông lớn là sông Kôn và sông Lại Giang. Sông Kôn dài 150km, bắt nguồn từ Gia Lai chảy qua các huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, e 13 An Nhơn, Tuy Phước rồi đổ ra đầm Thị Nại. Trên địa bàn tỉnh Phú Yên có 3 con sông được phân bổ tương đối đều từ Bắc vào Nam, đó là sông cái dài 75km, chảy qua các huyện Đồng Xuân và Tuy An; sông Ba dài 450km phát nguyên từ vùng rừng núi Kon Tum chảy qua các huyện Sơn Hòa và Tuy Hòa.
Ngoài vai trò là mạch máu giao lưu kinh tế, hàng năm những con sông lớn, nhỏ của bốn tỉnh thuộc vùng tự do còn mang về cho đồng bằng ở đây những lớp phù sa màu mỡ, nhưng do phần lớn các con sông đều ngắn, độ dốc lớn và chảy xiết nên thường gây ra lũ lụt lớn trong mùa mưa và cạn kiệt vào mùa khô, gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Bờ biển bốn tỉnh vùng tự do trải dài trên 600km từ chân đèo Hải Vân (Quảng Nam) đến chân đèo Cả (Phú Yên) với thềm lục địa rộng, có nhiều cửa biển, bán đảo, hải đảo, hải cảng và đầm, vịnh… Bán đảo Sơn Trà (Quảng Nam) và bán đảo Phương Mai (Bình Định), ngoài giá trị về mặt kinh tế, còn có giá trị lớn về mặt quân sự. Từ đây có thể quan sát và khống chế cả vùng biển rộng lớn phía Đông - Nam. Hệ thống các đảo của bốn tỉnh vùng tự do cũng đa dạng, phong phú.
Ngoài khơi Quảng Nam, cách Đà Nẵng gần 300km là quần đảo Hoàng Sa rộng 305km2 với trên 120 đảo lớn nhỏ. Cách Hội An khoảng 40km là nhóm đảo Cù Lao Chàm, nơi có sản lượng khai thác yến sào lớn nhất của Nam Trung Bộ. Ven bờ và biển khơi của bốn tỉnh vùng tự do có nguồn hải sản lớn như: cá chim, cá thu, cá nục, tôm, cua, mực… sản lượng đánh bắt hàng năm hàng chục ngàn tấn, đáp ứng cho nhu cầu địa phương. Do cấu tạo địa lý, bốn tỉnh thuộc vùng tự do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới khô, ẩm và được chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, là mùa hay có bão lũ và áp thấp nhiệt đới. e 14 Những năm mưa thuận gió hòa, thời tiết, khí hậu bốn tỉnh vùng tự do về cơ bản rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp và các nghề sản xuất thủ công truyền thống như sản xuất muối, nước mắm, chế biến các loại thủy, hải sản… Về giao thông vận tải, bốn tỉnh thuộc vùng tự do có nhiều đường giao thông chiến lược quan trọng. Chạy dọc theo chiều dài bốn tỉnh là quốc lộ số 1 và đường sắt xuyên Việt. Quốc lộ số 14 từ Đà Nẵng vòng lên phía Tây, xuyên suốt Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ.
Hệ thống đường ngang gồm các quốc lộ 14 từ Đà Nẵng lên Kon Tum nối liền với đường 18 qua Hạ Lào; đường 19 từ Bình Định lên Pleiku rồi chạy thẳng đến Stung-Treng ở Đông Bắc Campuchia. Hệ thống đường ngang có ý nghĩa quan trọng cả về chiến dịch và chiến lược, nó chia cắt chiến trường Việt Nam và Đông Dương làm đôi, đồng thời là trục cơ động lực của lực lượng vũ trang cách mạng nhằm triển khai chiến đấu bảo vệ vùng tự do và tác chiến đánh địch trên các mặt trận Tây Nguyên, Cực Nam Trung Bộ, Bắc Quảng Nam, Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Hệ thống đường biển, đường sông khá thuận lợi cho tàu thuyền lớn, nhỏ từ cảng Đà Nẵng, Quy Nhơn (Bình Định) có thể đi đến các cửa biển trong cả nước và ra quốc tế. Như vậy, với những đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên nêu trên, vùng tự do Liên khu V có một vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng.
Những yếu tố về mặt địa lý rất thuận lợi với núi rừng hiểm trở, nối liền với đồng bằng ven biển, đặc biệt miền núi Quảng Nam, Quảng Ngãi có vai trò chiến lược quan trọng để phòng thủ trước các mũi tấn công của kẻ thù và liên minh chiến đấu với các tỉnh Hạ Lào trong cuộc kháng chiến chống Pháp.