phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của luận văn được kết cấu làm 3 chương: Chương l: Vài nét về vùng đất và con người Thuận Quảng dưới thời chúa Nguyễn. Chương 2: Tình hình thương nghiệp ở Thuận Quảng từ năm 1558 - 1774. Chương 3: Đặc điểm, vai trò và tác động của thương nghiệp Thuận Quảng, thời chúa Nguyễn. 11 Chuong 1: VALNET VE VUNG DAT VA CON NGUOI THUAN QUANG DUGI THOI CHUA NGUYEN 1.
Điều kiện tự nhiên Đảng Trong còn gọi là Nam Hà, xuất hiện từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh thế kỷ XVII. Và vùng đất Thuận - Quảng, chỉ phần lãnh thổ Đại Việt từ nam sông Gianh (tỉnh Quảng Bình hiện nay) trở vào tới Bình Định. Vùng đất Đảng Trong của các chúa Nguyễn là “một dải đất dài và hẹp, nằm giữa núi và biển. Địa hình của vùng đất này có hai đặc điểm: thứ nhất là dãy Trường Sơn, phủ đầy rừng rậm, chạy.
suốt chiều dài của nước này, và càng xuống phía nam càng thấp dẫn. Thứ hai là dãy. núi đã bị nhiều con sông nước chảy mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một số lưu vực nhỏ và hẹp, ít gắn với nhau về mặt địa lý°[65, tr. Xứ Đảng Trong theo Li Tana, được chia thành ba vùng tự nhiên khác nhau.
Hai vùng đầu có những diện tích tương đối rộng thích hợp với nông nghiệp. thứ nhất, ngày nay là Quảng Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng 1.800 cay sé vuông. Nước do sông Thu Bồn và nhiều nhánh của con sông này cung cấp. thứ hai tương ứng với đồng bằng Bình Định trù phú ngày nay, có tổng diện tích là 1.550 cây số vuông, có hai dãy núi khác nhau bao quanh.
Hai thung lũng của vùng. đất này sử dụng nước của hai con sông Đà Rang va Lai Giang. Vùng thứ ba gồm ba thung lũng thông thương với nhau một cách dễ dàng, một vùng khác biệt”.[65, tr22] Về vị trí của xứ Đảng Trong, hướng Nam giáp vĩ tuyến 11, hướng Bắc giáp xứ Đảng Ngoài, hướng Đông giáp biển Đông và hướng Tây giáp với nước Lào. Xứ Đàng Trong có chiều dài hơn một trăm dặm nằm theo dọc bờ biến, từ vĩ tuyến 11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17, chỗ ranh giới giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài.
Chiều rộng không lớn lắm, nơi có chiều ngang hẹp nhất chỉ khoảng 40 km, đất bằng phẳng, phía Đông là dải đồng bằng nằm sát biển, còn phía tây là dãy núi chạy dài. 'Vùng Thuận Quảng, từ Nam sông Gianh cho tới Quy Nhơn có địa hình đa dạng, phức tạp. Núi cao, sông suối nhiều và dốc, đồng bằng hẹp lại có những dải cát trắng. vinh biển và đầm phá mênh mông.
Vì vậy mà thảm động, thực vật cũng rất phong phú, nhiều chủng loại của đồng bằng, biên cả, đầm phá, sông suối, núi 12 rừng, gò đồi Do ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, mùa hạ kéo dài liên tục, gây nóng. Mùa đông, mưa liên tục với lượng mưa lớn, do đó hay có lũ lụt gây thiệt hại rất lớn: “Cứ mười lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày” [16. Lũ về mang theo một lượng phủ sa lớn bồi đắp cho đồng ruộng làm cho đắt đai phì nhiêu, cây cối tốt tươi, lúa tốt được mùa. Nên người dân nơi đây họ rất mong lũ về, họ chấp nhận sống với lũ vì sau mỗi đợt lũ về mang lại cho họ một mùa vụ bội thu, năng suất lúa cao.
Như Christophoro Borri nói: “Mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để được mát mẻ và đễ chịu, mà còn dé cho đồng ruộng được mẫu mỡ. Thế nên khi thấy mùa nước tới, họ đề lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc lại “đã đến lụa, đã đến lụt” có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi. Nói tém lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ già đến chúa cũng vậy 16, tr.10] Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh. Tỉnh thứ nhất là trung tâm của Đảng Trong - nơi chúa ở ngay sát Đàng Ngoài là Thuận Hóa.
Tỉnh thứ hai là Cacciam (Quảng Nam), nơi hoàng tử trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia (Quảng Ngãi). Thứ tư là Quingnim (Quy Nhơn), nguời Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran (Phú Yên) [16, tr.5] Vị trí Thuận Quảng nằm ở khoảng giữa đắt nước ta, dọc theo bờ biển miền Trung, từ Quảng Bình vào đến giáp Phú Yên, thuộc khu vực Trung Trung Bộ; chiều dài gần 800 km, từ bắc vĩ độ 12,54 đến 18 độ. Phía Tây là dãy Trường Sơn và cao.
nguyên Trung Bộ, phía đông là biển. Day là đoạn bờ biển khúc khuỷu, có nhiều cửa sông tạo thành nhiều vịnh sâu kín gió. Dọc theo bờ biển hiện nay đã xây dựng nhiều bãi tắm đẹp. Đoạn bờ biển này có nhiều bãi cát và cồn cát kéo dài, một phần được phù sa sông bồi đáp, tạo thành chuỗi đồng bằng hẹp ven biên - chân núi.
Đoạn bờ biển này có nhiều sóng to gió lớn nên hình thành nhiều dun cat cao. Dài nhất là đằm pha Tam Giang, rộng nhất là đầm Cầu Hai ở phía Bắc. Phá Trường Giang - sông Cổ. Cò ở giữa và đầm Thị Nại, đầm Ô Loan ở phía Nam.
Đây còn là khu vực nằm giữa hai đèo cao: đèo Ngang (tức Hoàng Sơn) ở phía Bắc và đèo Cả (tức Đại Lãnh) ở phía Nam. Ngoài ra, trén dai đất ‘ap ghénh 18 va dằng dặc” của khúc ruột miễn trung còn chứa đựng cả điểm tận cùng của Trường Sơn Bắc, đó là dãy Bạch Mã - Hải Vân, cao 1.444m, chân xọac ra tận biển Đông và đầu đội đến chín tầng mây, chia cắt khu vực thành hai nửa Bắc, Nam với đặc điểm khí hậu phần nào khác biệt, được một nhà thơ lớn của đất Bắc hỏi đầu thế kỹ XX là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cảm nhận và khái quát hóa một cách tài tình trong câu thơ: “ Hải Vân đèo lớn vừa qua, mưa xuân ai đã đổi ra nẵng hè" [1, tr.2§] Dọc duyên hải có nhiều mỏm núi ăn ra tận biển thành các đèo như: Đèo. Ngang, đèo Hải Vân, đèo Củ Mông, Đại Lãnh.tạo thành địa giớ của nhiêu tỉnh. Ngoài khơi có nhiều đảo và bán đảo như: Mũi Ròn, mũi Lài, đảo Cồn Cỏ, mũi Chân Mây, bán đảo Sơn Trà, Củ Lao Chàm, Cù Lao Ré, mũi Ba Làng An, bán đảo Phương Mai.
Dọc theo bờ biển có nhiều hải cảng, lớn nhất là Đà Nẵng và Quy Nhơn [11, tr.11] 'Vùng Thuận - Quảng cũng có nhiều sông, phát nguyên từ dãy Trường Sơn và cao nguyên phía Tây. Sông ngắn, độ dốc cao đồ ra biển Đông, tạo thành nhiều cửa. khẩu và thương cảng. Sông lớn nhất là sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Côn.
Đây cũng là nơi đã hình thành nhiều làng mạc, trung tâm thương nghiệp và phố cảng (ven sông). Từ đầu thế ki XVII, Alexandre De Rhose cũng đã ghi nhận lợi ích của sông ngồi Đảng Trong như sau: *Đảng Trong được dẫn nước bằng 24 con sông đẹp. Nó mang đến một sự tiện lợi kỳ diệu cho việc đi lại trên sông trong toàn xứ sở, nó còn tạo ra sự thuận tiện cho viêc buôn bán và du lịch ”. [Dan theo 11, tr.12] Vùng Thuận - Quảng, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt.
Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7. Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1. Việc sản xuất hàng hóa và mua ban ngoài trời tắp nập thường diễn ra vào mùa khô khi trời tanh ráo. Vào mùa mưa có kèm theo bão lụt, tiếp đó là rét buốt nên chợ búa thưa thớt, phố xá vắng khách, các thuyền buôn rời bến cảng dé đưa hàng về nước.
Dau thé ky XVII, khi có mặt ở Thuận - Quảng, Cristoforo Borri cho biết khí hậu ở đây như sau: Nếu trong mùa hè bao gôm các tháng 6.7,8 xứ này nóng vì ở trong vùng. nhiệt đới và mặt trời ở vào định điểm của nó thì trái lại tháng 9,10,11 là mùa thu, cái nóng hết đi, không khí trở nên điều hòa nhờ những cơn mưa liên tục từ trên 14 miền núi cao, các dòng nước tuôn trào tràn ngập vương quốc, chảy ra đến tận biển. Trong 3 tháng này mùa đông phân biệt với các mùa khác trong năm. Cuối cùng vào tháng 3,4,5 người ta thầy hiệu quả của mùa xuân.
Tắt cả đều xanh tươi và nở hoa [16, tr 10]. Điều kiện tự nhiên đó đã ảnh hưởng đến đời sống của cư dân và hoạt động kinh tế của vùng Thuận - Quảng. Đặc điểm tự nhiên ở đây không giống như đồng. bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.
Là dải đồng bằng chật hẹp và được bồi đấp bởi các con sông ngắn đốc, độ phì nhiêu cũng ít màu mỡ đã trở thành những. khó khăn ban đầu của cư dân vùng Thuận - Quảng. Nhưng cũng chính điều đó để thấy rõ sự nỗ lực của các chúa Nguyễn trong việc xây dựng Đảng Trong nói chung. và vùng Thuận - Quảng nói riêng trở thành một khu vực trù phú, phát triển cả nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương ngh 1.
Tài nguyên thiên nhiên Xuất phát từ điều kiện tự nhiên đã hình thành nên một vùng Thuận - Quang với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng. Hai xứ Thuận, Quảng giàu có, giàu cả về lâm sản, nông sản và hải sản, nhất là xứ Quảng Nam. Lại có nơi có vàng, sắt. Trong Phứ biển tap lục của Lê Qúy Đôn viết: Những sản vật quý phân nhiều xuất từ miền Nam.Xứ Quảng Nam (kẻ cả Gia Định) là đất phì nhiêu nhất thiên hạ.Ở phủ Thăng Hoa, phú Điện Bàn, đẳng ruộng rộng rãi ruộng lúa Ba phú Quy Nhơn, Quãng Ngãi, Gia Định thì thóc gạo nhiều không kể xiết, nhất là Gia Định đất đã màu mỡ mà không lo cái nạn hạn, lut.6 Gia Dinh c6 nơi cấy một hộc thóc giống như gặt được 100 hộc thóc, có nơi ruộng không cần cày, chỉ phát cỏ rôi cấy, cấy một hộc thóc giống gặt được 300 hộc thóc ” và “một tiền quý mua được 16 đấu thóc, bằng 30 bát quan đồng.
Giá thóc rẻ chưa nơi nào như thế. Gạo nếp, gạo tẻ đêu trắng trẻo, tôm cá rất to béo, ăn không hết” và : “Trước kia sự buôn bán với Đông Nai được lưu thông. gạo ở Phú Xuân 10 thăng là một hộc (bằng 20 bát quan đông), giá chỉ 3 tiền, có thể đủ một người ăn trong một tháng.476] Ở phủ Quảng Ngãi thì xã Phú Xuân huyện Bình Sơn, xã Bình Khang huyện Chương Nghĩa, đất đai đều gần sông, đất, nước tốt lành, đồng điền rộng cao mà 16 bằng phẳng, ước hơn nghìn mẫu, cũng gọi là Tiểu Đồng Nai.