Luận văn: Thương nghiệp vùng Thuận Quảng thời Chúa Nguyễn (1558-1774)

Khám phá luận văn thạc sĩ về lịch sử thương nghiệp vùng Thuận Quảng thời Chúa Nguyễn từ 1558 đến 1774, phân tích và đánh giá sâu sắc.

Chuyên ngành

Lịch Sử Thương Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
110
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Giai đoạn trước năm 1975

2.2. Giai đoạn sau năm 1975

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Mục tiêu nghiên cứu

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1. Nguồn tài liệu

5.2. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI THUẬN QUẢNG DƯỚI THỜI CHÚA NGUYỄN

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.2. Tài nguyên thiên nhiên

1.3. Tình hình chính trị

1.4. Chính sách của chúa Nguyễn đối với việc phát triển kinh tế thương nghiệp

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THƯƠNG NGHIỆP THUẬN - QUẢNG TỪ NĂM 1558 - 1774

2.1. Tình hình nội thương

2.1.1. Thành phần tham gia buôn bán

2.1.2. Hình thức và các mặt hàng trao đổi

2.1.3. Giao thương kinh tế giữa các vùng

2.2. Tình hình ngoại thương

2.2.1. Thành phần thương nhân nước ngoài

2.2.2. Hoạt động buôn bán ở các thương cảng

2.2.3. Các loại hàng hóa buôn bán

2.2.4. Các phương thức mua bán

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG NGHIỆP VÙNG THUẬN QUẢNG THỜI CHÚA NGUYỄN

3.1. Đặc điểm của thương nghiệp Thuận Quảng 1558 - 1774

3.2. Vai trò - tác động của thương nghiệp Thuận Quảng

3.2.1. Đối với Chính trị - Quân sự

3.2.2. Đối với kinh tế - xã hội

3.2.3. Đối với giao lưu văn hóa

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Thương Nghiệp Vùng Thuận Quảng 1558 1774

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử này tập trung nghiên cứu về lịch sử thương nghiệp vùng Thuận Quảng trong giai đoạn từ 1558 đến 1774, thời kỳ chúa Nguyễn cai trị. Đây là giai đoạn có nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là quá trình Nam tiến và sự hình thành một nền kinh tế mang tính chất thương mại Đàng Trong. Luận văn không chỉ đi sâu vào phân tích tình hình buôn bán ở Thuận Quảng, mà còn xem xét các yếu tố tác động đến sự phát triển này, bao gồm chính sách của chúa Nguyễn, vai trò của các thương nhân nước ngoài và ảnh hưởng của giao thương Đàng Trong đến kinh tế xã hội. Mục tiêu chính là làm rõ bức tranh toàn diện về thương nghiệp Thuận Quảng, từ đó đánh giá vai trò của nó trong sự phát triển của Đàng Trong. Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, phân tích, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu. Nguồn tài liệu chủ yếu dựa trên các thư tịch cổ, công trình nghiên cứu chuyên khảo và các tài liệu tiếng Anh, internet liên quan đến chủ đề. Luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính, bao gồm: Vài nét về vùng đất và con người Thuận Quảng dưới thời chúa Nguyễn; Tình hình thương nghiệp ở Thuận Quảng từ năm 1558-1774; Đặc điểm, vai trò và tác động của thương nghiệp Thuận Quảng thời chúa Nguyễn.

1.1. Ý nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn của Nghiên Cứu

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những biến chuyển trong nền kinh tế Đàng Trong, đặc biệt là sự phát triển của thương nghiệp thời chúa Nguyễn. Nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa về mặt học thuật, mà còn cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế hiện nay. Các nội dung nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy lịch sử và bổ sung vào nguồn tư liệu lịch sử dân tộc thời trung đại. Từ đó thấy sự cần thiết phải tìm hiểu và nghiên cứu hoạt động kinh tế thương nghiệp.

1.2. Phạm Vi và Đối Tượng Nghiên Cứu của Luận Văn

Đối tượng nghiên cứu chính là tình hình kinh tế thương nghiệp của vùng Thuận Quảng dưới thời chúa Nguyễn. Phạm vi nghiên cứu bao gồm không gian địa lý của vùng Thuận Quảng xưa (tương ứng với các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay). Về thời gian, luận văn tập trung vào giai đoạn từ năm 1558 (khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa) đến năm 1774 (trước khi quân Trịnh vào đánh chiếm Phú Xuân). Tuy nhiên, khi nghiên cứu sẽ không tách rời các hoạt động diễn ra trong cả đất nước.

II. Điều Kiện Phát Triển Vùng Thuận Quảng Thời Chúa Nguyễn

Vùng Thuận Quảng dưới thời chúa Nguyễn sở hữu những điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú và con người cần cù, sáng tạo, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế Đàng Trong. Về địa lý, Thuận Quảng nằm ở vị trí chiến lược, giáp biển Đông, có nhiều cửa sông và cảng thị, thuận lợi cho giao thương Đàng Trong. Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, từ lâm sản, khoáng sản đến hải sản, cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất và buôn bán ở Thuận Quảng. Thêm vào đó, chính sách của chúa Nguyễn cũng đóng vai trò quan trọng. Các chúa Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và đặc biệt là thương nghiệp, tạo điều kiện cho thương mại Đàng Trong phát triển mạnh mẽ.

2.1. Vị Trí Địa Lý và Tài Nguyên Thiên Nhiên

Vị trí địa lý của Thuận Quảng tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế với các vùng miền khác trong nước và với các nước trong khu vực. Các cửa sông như Cửa Việt, Cửa Gianh, Cửa Tư Hiền là những đầu mối giao thông quan trọng, kết nối Thuận Quảng với các vùng đồng bằng và miền núi. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng là cơ sở để phát triển các ngành nghề, đặc biệt là nông nghiệp, thủ công nghiệp và khai thác khoáng sản. Cùng với giao thông đường thủy thuận lợi thì tiềm năng phát triển kinh tế nơi đây được phát huy tối đa. Điều này cũng được thể hiện qua việc các thương nhân nước ngoài tìm đến để giao thương, buôn bán, trao đổi sản vật thương mại Thuận Quảng.

2.2. Tình Hình Chính Trị Xã Hội và Chính Sách của Chúa Nguyễn

Tình hình chính trị ổn định dưới thời các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Các chúa Nguyễn đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, đặc biệt là thương nghiệp. Chính sách mở cửa, thu hút thương nhân nước ngoài đến buôn bán đã góp phần thúc đẩy thương mại Đàng Trong phát triển mạnh mẽ. Chúa Nguyễn rất quan tâm đến đời sống cũng như vấn đề phát triển hoạt động thương mại. Thực hiện chính sách trọng thương, triệt để khai thác nguồn lực của đất nước, chúa Nguyễn đã đặt vương quốc của mình trên nên tảng kinh tế ngoại thương, phát triển Đàng Trong trở thành một thể chế biển, phát huy truyền thống khai thác, phát triển giao thương và giao lưu văn hóa trên biển.

III. Tình Hình Thương Nghiệp Thuận Quảng 1558 1774 Phân Tích

Thương nghiệp Thuận Quảng trong giai đoạn 1558-1774 phát triển mạnh mẽ, thể hiện qua cả nội thương và ngoại thương. Nội thương Đàng Trong phát triển với sự hình thành của hệ thống chợ làng, chợ phủ, kết nối các vùng miền trong khu vực. Ngoại thương Đàng Trong được mở rộng với nhiều quốc gia, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc và các nước phương Tây. Hoạt động buôn bán diễn ra sôi động tại các thương cảng như Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn, góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cải thiện đời sống người dân. Các hình thức mua bán đa dạng, từ trao đổi hàng hóa đến sử dụng tiền tệ, tạo điều kiện cho thị trường Thuận Quảng thời chúa Nguyễn phát triển.

3.1. Nội Thương và Hệ Thống Chợ Làng

Hệ thống chợ làng đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền trong khu vực. Chợ làng là nơi người dân địa phương trao đổi các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp và các nhu yếu phẩm hàng ngày. Sự phát triển của hệ thống chợ làng phản ánh sự phát triển của kinh tế Đàng Trong và nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng của người dân. Các chợ thường hình thành ven sông, thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, việc chính quyền nới lỏng thuế má và biết vỗ về lòng dân, tận dụng các loại sản vật đã tạo luồng sinh khí mới mẻ trong sản xuất giao thương, chính là nguyên nhân chính giúp đa dạng thành phần tham gia buôn bán.

3.2. Ngoại Thương và Vai Trò của Các Thương Cảng

Các thương cảng như Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn là những trung tâm giao thương quan trọng của Đàng Trong với thế giới bên ngoài. Các thương cảng này thu hút nhiều thương nhân nước ngoài đến buôn bán, trao đổi hàng hóa. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là tơ lụa, đường, trầm hương, quế, ngà voi, sừng tê giác. Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là vũ khí, kim loại, đồ sứ, tơ lụa và các sản phẩm xa xỉ. Hoạt động ngoại thương Đàng Trong đã góp phần quan trọng vào việc tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy sản xuất và giao lưu văn hóa. Chính sách mở cửa, ưu đãi đối với thương nhân nước ngoài và hệ thống quản lý ngoại thương chặt chẽ đã tạo điều kiện cho thương nghiệp Đàng Trong phát triển.

3.3. Vai Trò của Thương Nhân Nước Ngoài

Nhật Bản, Trung Quốc và các nước phương Tây đều có vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại Đàng Trong. Người Nhật chủ yếu mua tơ lụa và các sản phẩm thủ công. Người Hoa chủ yếu mua các sản phẩm nông nghiệp và lâm sản. Người phương Tây chủ yếu mua các sản phẩm xa xỉ và bán vũ khí, kim loại. Sự tham gia của các thương nhân nước ngoài đã tạo ra một thị trường cạnh tranh sôi động, thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng hàng hóa. Chính quyền Đàng Trong đã tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân nước ngoài đến buôn bán, đồng thời cũng kiểm soát chặt chẽ hoạt động của họ để đảm bảo an ninh và trật tự xã hội.

IV. Đặc Điểm Nổi Bật Của Thương Nghiệp Vùng Thuận Quảng 1558 1774

Thương nghiệp Thuận Quảng có những đặc điểm nổi bật sau: Thương nghiệp gắn liền với nông nghiệp, thủ công nghiệp; Giao thương kinh tế chủ yếu bằng đường thủy; Chợ làng được hình thành chủ yếu ven các con sông; Đa dạng về thành phần thương nhân; Nội thương đóng vai trò chủ đạo, là nền tảng của kinh tế; Hình thành các làng buôn; Đa dạng hàng hóa xuất nhập khẩu; Đề cao hoạt động ngoại thương trong giai đoạn hưng thịnh.

4.1. Thương Nghiệp Gắn Liền Nông Nghiệp Thủ Công Nghiệp

Thương nghiệp không tách rời khỏi nông nghiệp, thủ công nghiệp, thể hiện ở việc các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp là những mặt hàng chủ yếu được trao đổi, mua bán. Người dân Thuận Quảng vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề thủ công, còn buôn bán chỉ là nghề phụ. Chợ làng là nơi người dân địa phương trao đổi các sản phẩm tự sản xuất, tự tiêu dùng. Sự phát triển của thương nghiệp góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp nhưng đồng thời cũng phụ thuộc vào sự phát triển của các ngành này.

4.2. Giao Thương Chủ Yếu Bằng Đường Thủy và Chợ Ven Sông

Giao thương kinh tế chủ yếu bằng đường thủy, thể hiện ở việc các chợ làng, các thương cảng đều được hình thành ven các con sông, thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Sông ngòi đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các vùng miền trong khu vực và với thế giới bên ngoài. Chợ làng ven sông là nơi giao thương quan trọng, kết nối các vùng sản xuất nông nghiệp với các trung tâm thương mại. Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, sông ngòi cũng đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động họp chợ của nhân dân. Nhiều trận bão lụt, mưa lớn nên sông ngồi thường xuyên bị sạt lở.

4.3. Đa Dạng Thành Phần Thương Nhân và Vai Trò Nội Thương

Thành phần thương nhân đa dạng, bao gồm tiểu thương, trung thương, đại thương, thương nhân người Việt, thương nhân người Hoa, thương nhân người Nhật và thương nhân người phương Tây. Các thành phần này tạo ra một thị trường cạnh tranh sôi động, thúc đẩy phát triển thương nghiệp. Nội thương đóng vai trò chủ đạo, là nền tảng của kinh tế, thể hiện ở việc các chợ làng, các làng buôn phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp chủ yếu được trao đổi, mua bán trong nước, còn ngoại thương chỉ là một bộ phận nhỏ.

V. Tác Động của Thương Nghiệp Đến Kinh Tế Xã Hội Vùng Thuận Quảng

Sự phát triển của thương nghiệp đã có những tác động tích cực đến kinh tế - xã hội vùng Thuận Quảng. Kinh tế phát triển, đời sống người dân được cải thiện. Đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, các thương cảng trở thành những trung tâm kinh tế, văn hóa sầm uất. Tuy nhiên, sự phát triển của thương nghiệp cũng gây ra những bất ổn xã hội, như phân hóa giàu nghèo, tham nhũng, buôn lậu. Dù vậy, sự phát triển này đã giúp Thuận Quảng đủ sức đối trọng với chúa Trịnh ở Đảng Ngoài và góp phần vào quá trình Nam tiến, mở rộng lãnh thổ.

5.1. Tác Động Đến Kinh Tế và Ngân Sách Nhà Nước

Sự phát triển của thương nghiệp đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa diễn ra sôi động, góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế khóa. Các thương cảng như Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn trở thành những trung tâm kinh tế quan trọng, đóng góp lớn vào sự phát triển của vùng Thuận Quảng. Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế đã thu hút lực lượng lao động, tri thức và kinh nghiệm về đây.

5.2. Tác Động Đến Xã Hội và Đời Sống Văn Hóa

Sự phát triển của thương nghiệp đã làm thay đổi cơ cấu xã hội, hình thành tầng lớp thương nhân giàu có, có ảnh hưởng lớn trong xã hội. Đời sống văn hóa trở nên phong phú, đa dạng hơn với sự giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau. Các đô thị trở thành những trung tâm văn hóa, nghệ thuật sầm uất. Ngay ở thế kỷ XVI, Đàng Trong đã được nhìn nhận là miền đất của cơ hội, của những chân trời mới đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, thương mại diễn ra không chỉ ở miền xuôi mà cả miền ngược, giữa những tộc người khác nhau đã thúc đẩy các tiến trình xã hội phức tạp hơn. Điều này đã tạo ra các luồng văn hóa, tín ngưỡng đa dạng, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của con người nơi đây.

VI. Kết Luận Vai Trò Của Thương Nghiệp Thuận Quảng và Bài Học Lịch Sử

Thương nghiệp vùng Thuận Quảng thời chúa Nguyễn (1558-1774) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Đàng Trong. Luận văn đã làm rõ bức tranh toàn diện về tình hình thương nghiệp, đặc điểm, vai trò và tác động của nó đến kinh tế - xã hội. Những bài học kinh nghiệm từ quá trình phát triển thương nghiệp Thuận Quảng có giá trị tham khảo cho việc xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay.

6.1. Tóm Tắt Vai Trò của Thương Nghiệp Vùng Thuận Quảng

Thương nghiệp là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Đàng Trong, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và cải thiện đời sống người dân. Thương nghiệp là cầu nối quan trọng giữa Đàng Trong với thế giới bên ngoài, thúc đẩy giao lưu văn hóa và tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến. Thương nghiệp là công cụ quan trọng để chúa Nguyễn củng cố quyền lực, đối phó với Đàng Ngoài và mở rộng lãnh thổ. Hoạt động thương nghiệp cũng là một minh chứng cho sự năng động, sáng tạo của người dân Thuận Quảng trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lực, biến vùng đất này thành trung tâm phát triển của cả nước.

6.2. Bài Học Kinh Nghiệm và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Bài học về chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, khuyến khích sản xuất và bảo vệ môi trường. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề như: Vai trò của nhà nước trong phát triển thương nghiệp; Ảnh hưởng của thương nghiệp đến các vùng miền khác trong cả nước; Mối quan hệ giữa thương nghiệp và văn hóa; Phân tích chi tiết về hoạt động của từng thương cảng; Nghiên cứu sự phát triển làng xã và văn hóa cư dân. Tiếp tục khai thác những tiềm năng lợi thế của vùng đất để phát triển kinh tế thịnh vượng hơn nữa.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ lịch sử thương nghiệp vùng thuận quảng thời chúa nguyễn 1558 1774

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của luận văn được kết cấu làm 3 chương: Chương l: Vài nét về vùng đất và con người Thuận Quảng dưới thời chúa Nguyễn. Chương 2: Tình hình thương nghiệp ở Thuận Quảng từ năm 1558 - 1774. Chương 3: Đặc điểm, vai trò và tác động của thương nghiệp Thuận Quảng, thời chúa Nguyễn. 11 Chuong 1: VALNET VE VUNG DAT VA CON NGUOI THUAN QUANG DUGI THOI CHUA NGUYEN 1.

Điều kiện tự nhiên Đảng Trong còn gọi là Nam Hà, xuất hiện từ thời Trịnh - Nguyễn phân tranh thế kỷ XVII. Và vùng đất Thuận - Quảng, chỉ phần lãnh thổ Đại Việt từ nam sông Gianh (tỉnh Quảng Bình hiện nay) trở vào tới Bình Định. Vùng đất Đảng Trong của các chúa Nguyễn là “một dải đất dài và hẹp, nằm giữa núi và biển. Địa hình của vùng đất này có hai đặc điểm: thứ nhất là dãy Trường Sơn, phủ đầy rừng rậm, chạy.

suốt chiều dài của nước này, và càng xuống phía nam càng thấp dẫn. Thứ hai là dãy. núi đã bị nhiều con sông nước chảy mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một số lưu vực nhỏ và hẹp, ít gắn với nhau về mặt địa lý°[65, tr. Xứ Đảng Trong theo Li Tana, được chia thành ba vùng tự nhiên khác nhau.

Hai vùng đầu có những diện tích tương đối rộng thích hợp với nông nghiệp. thứ nhất, ngày nay là Quảng Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng 1.800 cay sé vuông. Nước do sông Thu Bồn và nhiều nhánh của con sông này cung cấp. thứ hai tương ứng với đồng bằng Bình Định trù phú ngày nay, có tổng diện tích là 1.550 cây số vuông, có hai dãy núi khác nhau bao quanh.

Hai thung lũng của vùng. đất này sử dụng nước của hai con sông Đà Rang va Lai Giang. Vùng thứ ba gồm ba thung lũng thông thương với nhau một cách dễ dàng, một vùng khác biệt”.[65, tr22] Về vị trí của xứ Đảng Trong, hướng Nam giáp vĩ tuyến 11, hướng Bắc giáp xứ Đảng Ngoài, hướng Đông giáp biển Đông và hướng Tây giáp với nước Lào. Xứ Đàng Trong có chiều dài hơn một trăm dặm nằm theo dọc bờ biến, từ vĩ tuyến 11, cho tới khoảng vĩ tuyến 17, chỗ ranh giới giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài.

Chiều rộng không lớn lắm, nơi có chiều ngang hẹp nhất chỉ khoảng 40 km, đất bằng phẳng, phía Đông là dải đồng bằng nằm sát biển, còn phía tây là dãy núi chạy dài. 'Vùng Thuận Quảng, từ Nam sông Gianh cho tới Quy Nhơn có địa hình đa dạng, phức tạp. Núi cao, sông suối nhiều và dốc, đồng bằng hẹp lại có những dải cát trắng. vinh biển và đầm phá mênh mông.

Vì vậy mà thảm động, thực vật cũng rất phong phú, nhiều chủng loại của đồng bằng, biên cả, đầm phá, sông suối, núi 12 rừng, gò đồi Do ở vào giữa vĩ tuyến 11 và 17, do đó, mùa hạ kéo dài liên tục, gây nóng. Mùa đông, mưa liên tục với lượng mưa lớn, do đó hay có lũ lụt gây thiệt hại rất lớn: “Cứ mười lăm hôm lại xảy ra một trận lụt và mỗi lần kéo dài ba ngày” [16. Lũ về mang theo một lượng phủ sa lớn bồi đắp cho đồng ruộng làm cho đắt đai phì nhiêu, cây cối tốt tươi, lúa tốt được mùa. Nên người dân nơi đây họ rất mong lũ về, họ chấp nhận sống với lũ vì sau mỗi đợt lũ về mang lại cho họ một mùa vụ bội thu, năng suất lúa cao.

Như Christophoro Borri nói: “Mọi người ở đây đều mong nước lũ, không những để được mát mẻ và đễ chịu, mà còn dé cho đồng ruộng được mẫu mỡ. Thế nên khi thấy mùa nước tới, họ đề lộ hẳn sự vui mừng và thích thú: họ thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ và nhắc đi nhắc lại “đã đến lụa, đã đến lụt” có nghĩa là nước đã tới, nước đã tới rồi. Nói tém lại là không ai là không bày tỏ niềm vui, từ kẻ già đến chúa cũng vậy 16, tr.10] Xứ Đàng Trong chia thành năm tỉnh. Tỉnh thứ nhất là trung tâm của Đảng Trong - nơi chúa ở ngay sát Đàng Ngoài là Thuận Hóa.

Tỉnh thứ hai là Cacciam (Quảng Nam), nơi hoàng tử trấn thủ. Tỉnh thứ ba là Quamguia (Quảng Ngãi). Thứ tư là Quingnim (Quy Nhơn), nguời Bồ đặt tên là Pulucambis và tỉnh thứ năm là Renran (Phú Yên) [16, tr.5] Vị trí Thuận Quảng nằm ở khoảng giữa đắt nước ta, dọc theo bờ biển miền Trung, từ Quảng Bình vào đến giáp Phú Yên, thuộc khu vực Trung Trung Bộ; chiều dài gần 800 km, từ bắc vĩ độ 12,54 đến 18 độ. Phía Tây là dãy Trường Sơn và cao.

nguyên Trung Bộ, phía đông là biển. Day là đoạn bờ biển khúc khuỷu, có nhiều cửa sông tạo thành nhiều vịnh sâu kín gió. Dọc theo bờ biển hiện nay đã xây dựng nhiều bãi tắm đẹp. Đoạn bờ biển này có nhiều bãi cát và cồn cát kéo dài, một phần được phù sa sông bồi đáp, tạo thành chuỗi đồng bằng hẹp ven biên - chân núi.

Đoạn bờ biển này có nhiều sóng to gió lớn nên hình thành nhiều dun cat cao. Dài nhất là đằm pha Tam Giang, rộng nhất là đầm Cầu Hai ở phía Bắc. Phá Trường Giang - sông Cổ. Cò ở giữa và đầm Thị Nại, đầm Ô Loan ở phía Nam.

Đây còn là khu vực nằm giữa hai đèo cao: đèo Ngang (tức Hoàng Sơn) ở phía Bắc và đèo Cả (tức Đại Lãnh) ở phía Nam. Ngoài ra, trén dai đất ‘ap ghénh 18 va dằng dặc” của khúc ruột miễn trung còn chứa đựng cả điểm tận cùng của Trường Sơn Bắc, đó là dãy Bạch Mã - Hải Vân, cao 1.444m, chân xọac ra tận biển Đông và đầu đội đến chín tầng mây, chia cắt khu vực thành hai nửa Bắc, Nam với đặc điểm khí hậu phần nào khác biệt, được một nhà thơ lớn của đất Bắc hỏi đầu thế kỹ XX là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cảm nhận và khái quát hóa một cách tài tình trong câu thơ: “ Hải Vân đèo lớn vừa qua, mưa xuân ai đã đổi ra nẵng hè" [1, tr.2§] Dọc duyên hải có nhiều mỏm núi ăn ra tận biển thành các đèo như: Đèo. Ngang, đèo Hải Vân, đèo Củ Mông, Đại Lãnh.tạo thành địa giớ của nhiêu tỉnh. Ngoài khơi có nhiều đảo và bán đảo như: Mũi Ròn, mũi Lài, đảo Cồn Cỏ, mũi Chân Mây, bán đảo Sơn Trà, Củ Lao Chàm, Cù Lao Ré, mũi Ba Làng An, bán đảo Phương Mai.

Dọc theo bờ biển có nhiều hải cảng, lớn nhất là Đà Nẵng và Quy Nhơn [11, tr.11] 'Vùng Thuận - Quảng cũng có nhiều sông, phát nguyên từ dãy Trường Sơn và cao nguyên phía Tây. Sông ngắn, độ dốc cao đồ ra biển Đông, tạo thành nhiều cửa. khẩu và thương cảng. Sông lớn nhất là sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Côn.

Đây cũng là nơi đã hình thành nhiều làng mạc, trung tâm thương nghiệp và phố cảng (ven sông). Từ đầu thế ki XVII, Alexandre De Rhose cũng đã ghi nhận lợi ích của sông ngồi Đảng Trong như sau: *Đảng Trong được dẫn nước bằng 24 con sông đẹp. Nó mang đến một sự tiện lợi kỳ diệu cho việc đi lại trên sông trong toàn xứ sở, nó còn tạo ra sự thuận tiện cho viêc buôn bán và du lịch ”. [Dan theo 11, tr.12] Vùng Thuận - Quảng, khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt.

Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7. Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1. Việc sản xuất hàng hóa và mua ban ngoài trời tắp nập thường diễn ra vào mùa khô khi trời tanh ráo. Vào mùa mưa có kèm theo bão lụt, tiếp đó là rét buốt nên chợ búa thưa thớt, phố xá vắng khách, các thuyền buôn rời bến cảng dé đưa hàng về nước.

Dau thé ky XVII, khi có mặt ở Thuận - Quảng, Cristoforo Borri cho biết khí hậu ở đây như sau: Nếu trong mùa hè bao gôm các tháng 6.7,8 xứ này nóng vì ở trong vùng. nhiệt đới và mặt trời ở vào định điểm của nó thì trái lại tháng 9,10,11 là mùa thu, cái nóng hết đi, không khí trở nên điều hòa nhờ những cơn mưa liên tục từ trên 14 miền núi cao, các dòng nước tuôn trào tràn ngập vương quốc, chảy ra đến tận biển. Trong 3 tháng này mùa đông phân biệt với các mùa khác trong năm. Cuối cùng vào tháng 3,4,5 người ta thầy hiệu quả của mùa xuân.

Tắt cả đều xanh tươi và nở hoa [16, tr 10]. Điều kiện tự nhiên đó đã ảnh hưởng đến đời sống của cư dân và hoạt động kinh tế của vùng Thuận - Quảng. Đặc điểm tự nhiên ở đây không giống như đồng. bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.

Là dải đồng bằng chật hẹp và được bồi đấp bởi các con sông ngắn đốc, độ phì nhiêu cũng ít màu mỡ đã trở thành những. khó khăn ban đầu của cư dân vùng Thuận - Quảng. Nhưng cũng chính điều đó để thấy rõ sự nỗ lực của các chúa Nguyễn trong việc xây dựng Đảng Trong nói chung. và vùng Thuận - Quảng nói riêng trở thành một khu vực trù phú, phát triển cả nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương ngh 1.

Tài nguyên thiên nhiên Xuất phát từ điều kiện tự nhiên đã hình thành nên một vùng Thuận - Quang với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng. Hai xứ Thuận, Quảng giàu có, giàu cả về lâm sản, nông sản và hải sản, nhất là xứ Quảng Nam. Lại có nơi có vàng, sắt. Trong Phứ biển tap lục của Lê Qúy Đôn viết: Những sản vật quý phân nhiều xuất từ miền Nam.Xứ Quảng Nam (kẻ cả Gia Định) là đất phì nhiêu nhất thiên hạ.Ở phủ Thăng Hoa, phú Điện Bàn, đẳng ruộng rộng rãi ruộng lúa Ba phú Quy Nhơn, Quãng Ngãi, Gia Định thì thóc gạo nhiều không kể xiết, nhất là Gia Định đất đã màu mỡ mà không lo cái nạn hạn, lut.6 Gia Dinh c6 nơi cấy một hộc thóc giống như gặt được 100 hộc thóc, có nơi ruộng không cần cày, chỉ phát cỏ rôi cấy, cấy một hộc thóc giống gặt được 300 hộc thóc ” và “một tiền quý mua được 16 đấu thóc, bằng 30 bát quan đồng.

Giá thóc rẻ chưa nơi nào như thế. Gạo nếp, gạo tẻ đêu trắng trẻo, tôm cá rất to béo, ăn không hết” và : “Trước kia sự buôn bán với Đông Nai được lưu thông. gạo ở Phú Xuân 10 thăng là một hộc (bằng 20 bát quan đông), giá chỉ 3 tiền, có thể đủ một người ăn trong một tháng.476] Ở phủ Quảng Ngãi thì xã Phú Xuân huyện Bình Sơn, xã Bình Khang huyện Chương Nghĩa, đất đai đều gần sông, đất, nước tốt lành, đồng điền rộng cao mà 16 bằng phẳng, ước hơn nghìn mẫu, cũng gọi là Tiểu Đồng Nai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ