Chương 1. Đặc điểm tự nhiên, lich sử, truyền thống giáo dục - khoa cử Quảng. Trị trước năm 1802 và giáo dục - khoa cử Nho học Việt Nam dưới triều Nguyễn Chương 2. Tổ chức giáo dục và kết quả thi cử Nho học ở Quảng Trị dưới triều Nguyễn Chương 3.
Vai trò của gia tộc và làng xã, đóng góp của giáo dục - khoa cử Nho học Quảng Trị dưới triều Nguyễn và bài học kinh nghiệm NOI DUNG CHUONG 1. DAC DIEM TY NHIEN, LICH SU, TRUYEN THONG GIAO DỤC - KHOA CU QUANG TRỊ TRƯỚC NĂM 1802 VÀ GIÁO DỤC - KHOA CỬ NHO HỌC VIỆT NAM DUOI TRIEU NGUYEN 1. Đặc điểm tự nhiên và lịch sử tỉnh Quảng Trị 1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Quảng Trị Vị trí địa lý, Quảng Trị là vùng đất đã có lịch sử hình thành từ xa xưa nhưng.
phải đến năm Minh Mạng thứ 13 (năm 1832), Quảng Trị với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh mới chính thức hình thành. Là một tỉnh nằm ở khu vực miền Trung của đắt nước, nơi chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc của nước ta. Quảng Trị có tọa độ trên đất liền ở cực Bắc là 17°10' vĩ Bắc thuộc thôn Tây, xã Vinh Thai, huyện Vĩnh Linh; cực Nam là 16°18` vĩ Bắc thuộc thôn Hạ, xã Quế Hải, huyện Hải Lăng; cực Đông là 107°240' kinh Đông thuộc thôn Thâm Khê, xã Hải Khê, huyện Hải Lăng và cực Tây là 106°24' thuộc Đồn Cù Bai, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình; phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế; phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển trên 75 km và được án ngự ngoài khơi bởi đảo Cồn Cỏ rộng khoảng 4km?, cách bờ biển (Mũi Lay) khoảng 30km; phía Tây giáp 2 tỉnh Savanakhet và Saravan của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với chiều dài biên giới 206km, được ngăn cách bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ và được.
thông thương thuận lợi qua cửa khâu quốc tế Lao Bảo, nơi hạ thấp của dãy Trường Sơn (độ cao 350m), và cửa khẩu quốc gia La Lay. Đặc điểm về địa hình: Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần từ Tây sang Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biểi Do địa hình phía Tây núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc. Trong đó, diện tích đồi núi chiếm 80%; Đồng bằng chiếm 11,5%; Bãi cát và cồn cát 10 trắng ven biên chiếm 7,5%. Điện hình như ở Hải Lăng, hội tụ đầy đủ về đặc điểm địa hình Quảng Trị, “phía Đông có kênh dài, phía Tây có múi liễn nhau ” [33, tr.126] Địa hình núi cao, phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000m.
Địa hình phân cắt mạnh, có độ dốc lớn, quá trình xâm. thực và rửa trôi mạnh; địa hình gò đổi, núi thấp là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh. Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có độ cao trên 500m, phân bố ở Cam Lộ, phía Tây của Gio Linh, Vĩnh Linh. 'Về đồng bằng có đặc điểm là bồi tu hẹp, có lớp ¡ tích mỏng, độ dinh dưỡng nghèo, phù sa bồi đất ít, riêng đồng bằng sông Bến Hải phía Bắc tỉnh tương đối phì nhiêu.
Đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ bởi phù sa của sông Thạch Hãn khá màu mỡ. Đồng bằng vùng Hải Lăng phổ biến là cát, kém dinh dưỡng cho cây trồng phát triển. Nét nôi bật về tự nhiên ở Quảng Trị là cồn cát và đụn cát chạy dọc theo bờ biên từ Nam Cửa Tùng đến giáp Thừa Thiên Huế, có bề rộng trung bình 4-5km, độ cao từ 5- 15m. Cồn cát Nhĩ Thượng - Gio Linh cao 31m.
Do tính chất liên kết kém bền vững, độ. cao lớn, lại chịu ảnh hưởng của gió mạnh nên nạn cát bay, cát lấp, đồi cát di động, thường xảy ra, gây tác hại xấu đến sản xuất và sinh hoạt đời sống nhân dân trong vùng. Với 3/4 diện tích là đồi núi, địa hình Quảng Trị bị chia cắt mạnh bởi có nhiều đồi núi, sông suối, đầm phá dày đặc, đồng bằng nhỏ hẹp. Phía Tây lộ thiên đá gốc nhọn, sườn đốc thoải lượn sóng.
Phía Đông chủ yếu là bãi cát và cồn cát. Địa hình đồng bằng cấu tạo bởi phù sa lại thấp ở giữa nên dễ bị ngập úng vào mùa mưa lũ. 'Về Sông ngòi, Quảng Trị có mật độ sông ngòi trung bình 0,8-1km/km2, ving núi và vùng đồi của tỉnh có mật độ sông ngòi dày đặc cao lên t6i 1,85km/km2. Hau hết sông ngòi đều dốc, ngắn, ở vùng phía Tây lòng sông thường hẹp và nhiều thác ghềnh.
Quảng Trị có 12 con sông lớn hình thành 3 hệ thống sông chính là: Sông Bến Hải; Sông Thạch Hãn; Sông Ô Lâu (Mỹ Chánh) và có hơn 60 phụ lưu sông khác. Sông Bến Hải đồ ra biển Cửa Tùng, sông Thạch Hãn đỗ ra biển Cửa Việt, sông Ô Lâu ( Mỹ Chánh) đô vào Phá Tam Giang qua Cửa Lác 'Về khí hậu, nhìn chung khí hậu ở Quảng Trị rất khắc nghiệt, do nằm trọn trong khu vực nhiệt đới âm gió mùa và là vùng chuyển tiếp hai miền khí hậu. Quảng Trị còn chịu ảnh hưởng lớn của miền khí hậu Đông Trường Sơn, " do đó khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa gió Tây - Nam thì khô, nóng bức, ít mưa. và đễ gây ra hạn hán; mùa mưa lại ngắn và thường đến chậm.
Từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm thường xuyên có nhiều mưa bão hay gây ra lũ lụt, gió xoáy, gió lốc Mùa nóng ở Quảng Trị kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, từ cuối tháng 12 đến giữa tháng 2 năm sau là mùa lạnh. Sách Đại Nam nhất thắng chí có chép: “Tháng 5 thắng 6 và tháng 7 gió Nam thôi mạnh; trước ngày 7 thắng 7 có muưa;. thắng 8 tháng 9 khí trời mát dẫn, thường có mưa lũ, lại thỉnh thoảng có gió Đông vài ba ngày mới tắt “tục gọi là gió từ bến ”; tháng 10 trong những ngày mông 3, 13 và 23 thường bị lụt, ngạn ngữ có câu: ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái lụt ngdy 3 thang 10” [75, tr. Tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam (gió Lào) và gió mùa Đông Bắc.
Đặc biệt gió Tây Nam khô nóng ở Quảng Trị là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta, làm ảnh hưởng. không nhỏ tới các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão. Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10.
Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sóng dân cư. Do địa hình và chế độ thuỷ văn ở Quảng Trị rất đa dạng và phức tạp nên đất ở. đây cũng đa dạng, chủ yếu tập trung vào 3 nhóm cơ bản: Nhóm cồn cát và đất cát ven biết từ Vĩnh Linh đến Hải Lăng với diện tích khoảng 28.630 ha, chiếm 6,23% diện tích đất tự nhiên, hầu hết là đất nghèo dinh dưỡng, hoang hoá, đất chua; nhóm đất phù sa do các sông bồi đắp dọc sông Mỹ Chánh, Thạch Hãn, sông Hiếu, Bến Hải có diện tích khoảng 9.130 ha, chiếm 2% diện tích đất tự nhiên, đây là đất có tiềm năng dinh dưỡng cao đã và đang khai thác vào sản xuất nông nghiệp khá hiệu quả; nhóm đất đỏ vàng được gọi là Bazan ở vùng núi và gò đồi trung du Hướng Hoá, Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ diện tích 20.000 ha, đất trồng dày, tơi xốp, độ mùn khá, dinh dưỡng cao rất thích hợp phát triển trồng cây công nghiệp lâu năm. Ngoài ra, dat đỏ vàng nâu còn có khả năng khai thác ở vùng lau lách, đồi trọc diện tích khá nhưng chất lượng không cao, đất chua, đất nghèo mùn.
12 Quảng Trị có đường bờ biển dài 75 km, có 2 cửa lạch là: Cửa Tùng và Cửa Việt, có cảng Cửa Việt khá sâu thuận lợi cho tàu trọng tải lớn ra vào. Ngoài khơi có đảo Cồn Cỏ cách đắt liền chừng 30km, tạo thế thuận lợi vươn ra biên và là vị trí quan trọng trong quân sự phòng thủ biển Đông. Quảng Trị có khả năng phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản xuất khẩu khá lớn, tuy nhiên lại thường xuyên bị thiên tai, lũ lụt gây ra không ít khó khăn. 'Với một phức thê về địa lý và tự nhiên mang nhiều nét khu biệt đó, các thế hệ người Quảng Trị đã nói tiếp nhau cùng cộng sinh, vượt qua mọi thách thức, chung.
sức chung lòng xây dựng quê hương. Quá trình đó đã tạo ra tính cách chịu thương, chịu khó, vượt mọi khó khăn của con người Quảng Trị. Chính điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt với “gió Lào, cát trắng”, những Nho sĩ Quảng Trị đã nỗ lực vươn lên, dai mài kinh sử để mong tới ngày được vinh danh. Khái quát lịch sử tỉnh Quảng Trị Trong lịch sử, Quảng Trị đã từng chịu nhiều biến động, xáo trộn và chia cắt Từ thời đại Hùng Vương theo Ðư địa chí của Nguyễn Trãi, vùng đất Quảng Trị xưa thuộc một trong 15 bộ của nước Văn Lang, Âu Lạc với tên gọi là Việt Thường thị Thời Triệu Việt vương, đổi làm nội bản của châu Bắc Cảnh thuộc nước Nam Việt, “là phiên đậu thứ tư về phương Nam” [103, tr.
Nhưng theo học giả. Anh trong tác phâm Đát nước Việt Nam qua các đời và cho rằng Việt Thường Thị là vùng đất thuộc Hà Tĩnh ngày nay, tác giả cho rằng: “Việt Thường Thị: Tên nước xưa trong truyền thuyết, từ đời Ngô thì thành tên một huyện thuộc quận Cửu Đức, tương đương với miễn Hà Tĩnh ngày nay” |5, tr. Theo tác giả, quận Nhật Nam là đất của người Chăm, vùng Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng. Nam ngày nay, “Giao Chỉ.
Cửu Chân thuộc nước Âu Lạc xưa. còn quận Nhật Nam tương đương với miền đất của người Chàm là láng giêng ở phía Nam của tổ tiên chúng ta sẽ lập thành nước Lâm Áp hay nước Chiêm Thành ° (5, tr. Các nhà khảo cô học thì chứng minh “trong giai đoạn tiền Chămpa (nhất là từ giữa thể kỷ I TCN đến đâu CN), vùng đất Quảng Trị ngày nay trực thuộc tiểu quốc Bắc Chăm, nằm trong vùng Amaravati. Bộ phận cư dân ở đây mặc dù không thuộc hệ chính thống của bộ lạc Dừa” [99, tr99].