Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Huyện Bình Gia nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Lạng Sơn với tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha gồm 19 xã và 1 thị trấn. Trụ sở UBND huyện đặt ở trung tâm huyện, cách thành phố Lạng Sơn 70km về phía Tây; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 62km theo quốc lộ 1B và cách thành phố Thái Nguyên 85km về phía Tây Nam. Vị trí tiếp giáp của huyện như sau: Phía Bắc giáp huyện Tràng Định.
Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn. Phía Tây giáp huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn. Bình Gia là huyện có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng. Bình Gia có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thành phố Lạng Sơn với Thành phố Thái Nguyên, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa.
Ngoài ra còn có Quốc lộ 279 nối liền Bình Gia với Na Rì - Bắc Kạn, các mặt hàng nông sản thực phẩm của Bình Gia có thể qua tuyến đường này cung cấp cho thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thủ đô Hà Nội cũng như các khu dân cư tập trung khác. Về quốc phòng an ninh, Bình Gia có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp Bình Gia là căn cứ địa cách mạng, chiến thắng Bình Gia vang dội góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Trong chiến tranh Biên giới tháng 2/1979, Bình Gia là tuyến phòng thủ thứ 2 đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới phía Bắc Việt Nam.2 Điều kiện tự nhiên Bình Gia có tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha, trong đó 2/3 diện tích là đồi núi, 1/3 là đất ruộng, vườn nương canh tác.
Địa hình Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có 6 độ dốc từ 25- 30 trở lên. Xen với những lớp đất trải rộng ra phía Đông và phía Bắc là những cánh đồng và thung lũng khe suối nối tiếp nhau thành các lòng máng ngắn. Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu không cao. Bình Gia có ngọn núi Phia Ngàm (Yên Lỗ) cao 1.193m và ngọn Slam Táng (Hưng Đạo) cao 1.
Bình Gia có nhiều đồng cỏ xanh tốt thuận lợi cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, dê. Các loại gia súc này không những đảm bảo cung sức kéo, thực phẩm trong huyện mà còn có thể cung cấp cho các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Bình Gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mang những nét độc đáo, riêng biệt.,Ở Bình Gia mùa đông thường thịnh hành gió Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có hiện tượng sương muối. Mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Tây Nam.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20,8 độ c, độ ẩm không khí trung bình năm là 82,0% thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, hồi, trẩu, sở, bông và các loại cây ăn quả như lê, mận, đào…và đặc biệt rất phù hợp với điều kiện sinh thái của cây hồi – một loại cây có giá trị kinh tế cao của Lạng Sơn. Trong điều kiện có vốn đầu tư có thể mở mang phát triển sản xuất với quy mô lớn, tập trung thành các vùng sản xuất hàng hóa. Lượng mưa trung bình năm ở Bình Gia là 1540mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9.
Lượng mưa bình quân năm là 1. Vào mùa mưa, lượng mưa bình quân tháng là 212 mm. Lượng nước mưa là nguồn nước tưới thiên nhiên quan trọng cho các loại cây trồng hoa màu lương thực, cây ăn quả và cây hồi. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau ít mưa, lượng mưa tháng chỉ đạt 44,5mm/tháng.
Thời gian này cây hồi, lê, mận, đào đã cho thu hoạch và chuẩn bị tích lũy dinh dưỡng cho kì ra hoa năm sau nên không cần thiết nhiều nước tưới. Nhưng ngược lại, đối với các cây trồng ngắn vụ xuân lại thiếu nước vì thế, diện tích lúa 2 vụ ở Bình Gia không nhiều chỉ chiếm 31,2% tổng số diện tích đất lúa và 0,97% tổng diện tích tự nhiên. Số giờ nắng trung bình khoảng: 1. Lượng bốc hơi bình quân năm: 811 mm, chiếm 52,7% lượng mưa cả năm.
Trong các tháng mùa 7 lạnh, lượng bốc hơi cao nhiều hơn so với lượng mưa, gây hạn hán cục bộ ở nhiều khu vực có địa hình cao xa nguồn nước. Nhìn chung, khí hậu của huyện có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp. Trên địa bàn huyện ít chịu ảnh hưởng của các cơn bão lớn. Tuy nhiên do biên độ nhiệt dao động giữa các mùa lớn, mùa khô kéo dài, chế độ mưa tập trung đã gây nên những hiện tượng hạn hán, xói mòn trên đất dốc, mùa đông lạnh có sương muối vào khoảng tháng 11, 12, ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân.
Huyện Bình Gia có sông Bắc Giang (sông Văn Mịch) chảy qua với chiều dài trên 50km là nguồn nước, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, tại đây có thể xây dựng nhà máy thủy điện … Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Pắc Khuông chảy qua và có hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố ở khắp các xã là nguồn cung cấp chủ yếu nước sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới cho sản xuất. Hệ thống sông suối, hồ đập dải đều khắp trên địa bàn huyện nên thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thủy lợi. Bình Gia có hồ Phai Danh (Văn Thụ) rộng 13 – 15 ha có sức chứa 3,3 triệu m3 cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất cho một số xã xung quanh thị trấn Bình Gia. Bình Gia là một huyện nghèo khoáng sản, chỉ có đá vôi và cát sông, có khả năng khai thác sử dụng làm đường giao thông và xây dựng của nhân dân.
Trên địa bàn huyện Bình Gia có mỏ than bùn ở xã Hoàng Văn Thụ, trữ lượng khoảng vài trăm ngàn tấn có thể khai thác để sản xuất phân vi sinh mang lại nguồn thu đáng kể trong nền kinh tế trên địa bàn huyện. Ngoài ra, huyện còn có một số kim loại quý như vàng sa khoáng (ở khu vực xã Tân Văn, Hồng Phong), quặng sắt, Ăngtymol (ở xã Hoa Thám), tuy nhiên trữ lượng nhỏ không đáng kể. Bình Gia còn có một khối lượng đá vôi lớn tập trung ở các xã Tô Hiệu, Tân Văn. Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bình Gia… làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, đá xẻ, đá ốp lát phục vụ cho các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và tỉnh Lạng Sơn.
Bình Gia có nhiều hang động, trong đó có hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai là những di chỉ khảo cổ học đã được xếp hạng. Ở đó các chuyên gia khảo 8 cổ học đã phát hiện ra hóa thạch xương người Việt cổ cách đây 25 vạn năm. Đồng thời Bình Gia còn nằm trên tuyến du lịch Thành phố Lạng Sơn – Đồng Đăng – Bắc Sơn. Các dân tộc huyện Bình Gia có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như hát Then, hát Sli, hát lượn của các dân tộc Tày, Nùng, các ngày lễ hội ở Pắc Khuông,Văn Mịch… Trong tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động có giá trị.
Rừng nguyên sinh ở Bình Gia có diện tích khá lớn, với nhiều loại gỗ quý như: lát, lim, vàng tâm, nghiến,… Theo số liệu điều tra năm 2009, huyện Bình Gia có 56.850 ha đất rừng, chiếm 52,1% diện tích tự nhiên. Trong đó đất rừng sản xuất là 38.427,43 ha, đất rừng phòng hộ là 18. Diện tích rừng trồng tập trung mới đạt 511,0 ha với các loại cây chủ yếu như hồi, mỡ, thông, keo. đặc biệt cây hồi có điều kiện phát triển nhanh.
Trên địa bàn huyện còn có khu rừng đặc dụng Lân Luông (xã Thiện Hòa) còn bảo tồn được nhiều cây gỗ quý: nghiến, lát hoa, đinh và nhiều loại sản vật có giá trị như sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ… Rừng ngoài việc cung cấp gỗ, lâm sản còn góp phần quan trọng vào việc điều tiết cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường. Tài nguyên động vật tương đối phong phú với nhiều loài quý hiếm như gà lôi, hươu nai, lợn rừng, nhím, sóc,… Tuy nhiên do diện tích rừng suy giảm mạnh, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cùng với tập quán săn bắt thú rừng bừa bãi của dân cư miền núi nên hầu hết các loài thú quý hiếm trên đã bị suy giảm về số lượng loài và cá thể, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.2 Lịch sử hành chính Bình Gia là huyện có lịch sử lâu đời. Qua những cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ học, các nhà sử học đã phát hiện dấu tích của người vượn cổ và nhiều hóa thạch khác ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên thuộc xã Tân Văn. Những dấu tích đó là những mảnh tước, rìu, răng … thuộc về văn hóa Bắc Sơn trong thời kì đầu thời đại đồ đá mới mà người vượn dùng để kiếm ăn hàng ngày cách đây hàng vạn năm (ở hang Kéo Lèng xã Tân Văn).
Theo Địa chí Lạng Sơn: “Đầu thế kỷ XIX về trước, vùng đất Bình Gia hiện nay thuộc về châu Văn Quan (tổng Bằng Gia, tổng Uy Mãnh) và Văn 9 Uyên (tổng Hóa Nhân) thuộc Phủ Tràng Khánh. Cho đến thời Tự Đức thì Bình Gia thuộc về châu Văn Uyên, huyện Văn Quan của phủ Tràng Định”[4, tr. Cuối năm 1980, thực dân Pháp đánh chiếm Bình Gia. Đến năm 1885, Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở châu Bình Gia.
Tháng 9-1894 thực dân Pháp tách hai tổng Bằng Gia và Tuyền Cam của châu Văn Quan lập thành một đơn vị hành chính mới là châu Bình Gia. Từ năm 1891 đến 1905 châu Bình Gia là một châu thuộc hạt Thất Khê, trên phần lãnh thổ của Quân chính đạo số 1 do thực dân Pháp lập ra. Đến năm 1907 châu Bình Gia gồm 5 tổng (Bằng Gia, Cam Thủy, Hóa Nhân, Oai Mãnh, Yên Hùng) và 23 xã: Bằng Gia, Vũ Khê, Tĩnh Sóc (tổng Bằng Gia), Cam Thủy, Thuần Như, Tồng Chu, Đinh Bảo, Phụng Cống (tổng Cam Thủy), Hóa Nhân, Dưỡng Nông, Xuân Dục, Bác Hóa (tổng Hóa Nhân), Oai Mãnh, Vân Mịt, Lãng Dương, Văn Định, Tòng Lệnh, Huãn Phing (tổng Oai Mãnh), Yên Hùng, Yên Lỗ, Bảo Thiệu, Quý Hòa, Yên Tùng (tổng Yên Hùng).