Luận Văn Thạc Sĩ Nghiên Cứu Làng Bản Người Nùng Ở Huyện Bình Gia, Tỉnh Lạng Sơn Giai Đoạn 1986-2013

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu làng bản người Nùng tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1986-2013, phân tích văn hóa, xã hội và biến đổi.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2015

119
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ

Luận Văn Thạc Sĩ của Đặng Thị Hoài Thu nghiên cứu về Làng Bản Người Nùng tại Huyện Bình Gia, Lạng Sơn trong giai đoạn 1986-2013. Công trình này tập trung vào việc phân tích cấu trúc, văn hóa, và sự biến đổi của làng bản người Nùng, đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, logic, và điền dã để khai thác tài liệu địa phương, cung cấp cái nhìn toàn diện về đời sống kinh tế, xã hội, và văn hóa của người Nùng.

1.1. Mục Đích Nghiên Cứu

Mục đích chính của Luận Văn Thạc Sĩ là làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa đặc trưng của người Nùng, đồng thời đóng góp vào quá trình xây dựng nông thôn mới và bảo tồn văn hóa làng bản. Nghiên cứu này cũng nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người Nùng.

1.2. Phương Pháp Nghiên Cứu

Luận Văn Thạc Sĩ sử dụng phương pháp lịch sử, logic, và điền dã để thu thập và phân tích dữ liệu. Tác giả đã khai thác tài liệu địa phương, thống kê, và tổng hợp thông tin từ các nguồn khác nhau, bao gồm các báo cáo, tài liệu của Ủy ban nhân dân huyện, và nghiên cứu thực tế tại địa phương.

II. Làng Bản Người Nùng

Làng Bản Người Nùng tại Huyện Bình Gia, Lạng Sơn là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa đặc trưng. Nghiên cứu này tập trung vào cấu trúc tổ chức, hoạt động kinh tế, và văn hóa vật chất, tinh thần của làng bản. Làng bản người Nùng không chỉ là nơi sinh sống mà còn là không gian bảo tồn các giá trị truyền thống, phong tục tập quán, và tín ngưỡng dân tộc.

2.1. Cấu Trúc Tổ Chức

Làng Bản Người Nùng có cấu trúc tổ chức chặt chẽ, bao gồm gia đình, dòng họ, và tổ chức làng. Gia đình và dòng họ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các mối quan hệ xã hội và truyền thống văn hóa. Tổ chức làng quản lý các hoạt động chung, từ kinh tế đến lễ hội, tạo nên sự gắn kết cộng đồng.

2.2. Văn Hóa Vật Chất Và Tinh Thần

Văn hóa vật chất của Làng Bản Người Nùng thể hiện qua kiến trúc nhà ở, trang phục, và các công cụ lao động. Văn hóa tinh thần bao gồm các tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, và nghệ thuật dân gian như hát Then, hát Sli. Những yếu tố này không chỉ phản ánh đời sống tinh thần phong phú mà còn là nền tảng bảo tồn bản sắc dân tộc.

III. Biến Đổi Xã Hội Và Phát Triển Địa Phương

Giai đoạn 1986-2013 chứng kiến nhiều Biến Đổi Xã Hội tại Làng Bản Người NùngHuyện Bình Gia, Lạng Sơn. Quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa đã tác động mạnh mẽ đến cấu trúc làng bản, kinh tế, và văn hóa truyền thống. Nghiên cứu này phân tích các nguyên nhân và hậu quả của sự biến đổi, đồng thời đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tích cực.

3.1. Nguyên Nhân Biến Đổi

Biến Đổi Xã Hội tại Làng Bản Người Nùng chủ yếu do tác động của quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa, và sự thay đổi trong chính sách phát triển địa phương. Những yếu tố này đã làm thay đổi không gian sinh tồn, cấu trúc tổ chức, và đời sống kinh tế của người Nùng.

3.2. Biện Pháp Bảo Tồn Và Phát Triển

Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Làng Bản Người Nùng, nghiên cứu đề xuất các biện pháp như tăng cường giáo dục văn hóa, hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn. Những biện pháp này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của làng bản trong bối cảnh hiện đại.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ làng bản của người nùng ở huyện bình gia tỉnh lạng sơn 1986 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH GIA – TỈNH LẠNG SƠN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Huyện Bình Gia nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Lạng Sơn với tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha gồm 19 xã và 1 thị trấn. Trụ sở UBND huyện đặt ở trung tâm huyện, cách thành phố Lạng Sơn 70km về phía Tây; cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 62km theo quốc lộ 1B và cách thành phố Thái Nguyên 85km về phía Tây Nam. Vị trí tiếp giáp của huyện như sau: Phía Bắc giáp huyện Tràng Định.

Phía Đông giáp huyện Văn Quan và huyện Văn Lãng Phía Nam giáp huyện Bắc Sơn. Phía Tây giáp huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn. Bình Gia là huyện có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng. Bình Gia có Quốc lộ 1B đi qua, nối liền Thành phố Lạng Sơn với Thành phố Thái Nguyên, thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa.

Ngoài ra còn có Quốc lộ 279 nối liền Bình Gia với Na Rì - Bắc Kạn, các mặt hàng nông sản thực phẩm của Bình Gia có thể qua tuyến đường này cung cấp cho thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, Thủ đô Hà Nội cũng như các khu dân cư tập trung khác. Về quốc phòng an ninh, Bình Gia có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong kháng chiến chống Pháp Bình Gia là căn cứ địa cách mạng, chiến thắng Bình Gia vang dội góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Trong chiến tranh Biên giới tháng 2/1979, Bình Gia là tuyến phòng thủ thứ 2 đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới phía Bắc Việt Nam.2 Điều kiện tự nhiên Bình Gia có tổng diện tích tự nhiên là 109.352,73 ha, trong đó 2/3 diện tích là đồi núi, 1/3 là đất ruộng, vườn nương canh tác.

Địa hình Bình Gia bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đất và núi đá các dãy đồi, núi ở Bình Gia đều có 6 độ dốc từ 25- 30 trở lên. Xen với những lớp đất trải rộng ra phía Đông và phía Bắc là những cánh đồng và thung lũng khe suối nối tiếp nhau thành các lòng máng ngắn. Các dải thung lũng hẹp có diện tích nhỏ, không đáng kể, diện tích cây hàng năm vì thế không có nhiều nên sản lượng lúa và hoa màu không cao. Bình Gia có ngọn núi Phia Ngàm (Yên Lỗ) cao 1.193m và ngọn Slam Táng (Hưng Đạo) cao 1.

Bình Gia có nhiều đồng cỏ xanh tốt thuận lợi cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, dê. Các loại gia súc này không những đảm bảo cung sức kéo, thực phẩm trong huyện mà còn có thể cung cấp cho các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Bình Gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mang những nét độc đáo, riêng biệt.,Ở Bình Gia mùa đông thường thịnh hành gió Đông Bắc lạnh và ít mưa, nhiều năm có hiện tượng sương muối. Mùa hè thịnh hành gió Đông Nam và Tây Nam.

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20,8 độ c, độ ẩm không khí trung bình năm là 82,0% thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, hồi, trẩu, sở, bông và các loại cây ăn quả như lê, mận, đào…và đặc biệt rất phù hợp với điều kiện sinh thái của cây hồi – một loại cây có giá trị kinh tế cao của Lạng Sơn. Trong điều kiện có vốn đầu tư có thể mở mang phát triển sản xuất với quy mô lớn, tập trung thành các vùng sản xuất hàng hóa. Lượng mưa trung bình năm ở Bình Gia là 1540mm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9.

Lượng mưa bình quân năm là 1. Vào mùa mưa, lượng mưa bình quân tháng là 212 mm. Lượng nước mưa là nguồn nước tưới thiên nhiên quan trọng cho các loại cây trồng hoa màu lương thực, cây ăn quả và cây hồi. Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau ít mưa, lượng mưa tháng chỉ đạt 44,5mm/tháng.

Thời gian này cây hồi, lê, mận, đào đã cho thu hoạch và chuẩn bị tích lũy dinh dưỡng cho kì ra hoa năm sau nên không cần thiết nhiều nước tưới. Nhưng ngược lại, đối với các cây trồng ngắn vụ xuân lại thiếu nước vì thế, diện tích lúa 2 vụ ở Bình Gia không nhiều chỉ chiếm 31,2% tổng số diện tích đất lúa và 0,97% tổng diện tích tự nhiên. Số giờ nắng trung bình khoảng: 1. Lượng bốc hơi bình quân năm: 811 mm, chiếm 52,7% lượng mưa cả năm.

Trong các tháng mùa 7 lạnh, lượng bốc hơi cao nhiều hơn so với lượng mưa, gây hạn hán cục bộ ở nhiều khu vực có địa hình cao xa nguồn nước. Nhìn chung, khí hậu của huyện có nhiều thuận lợi cho sự phát triển nông lâm nghiệp. Trên địa bàn huyện ít chịu ảnh hưởng của các cơn bão lớn. Tuy nhiên do biên độ nhiệt dao động giữa các mùa lớn, mùa khô kéo dài, chế độ mưa tập trung đã gây nên những hiện tượng hạn hán, xói mòn trên đất dốc, mùa đông lạnh có sương muối vào khoảng tháng 11, 12, ảnh hưởng khá lớn đến sản xuất nông nghiệp của người dân.

Huyện Bình Gia có sông Bắc Giang (sông Văn Mịch) chảy qua với chiều dài trên 50km là nguồn nước, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng, tại đây có thể xây dựng nhà máy thủy điện … Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có sông Pắc Khuông chảy qua và có hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố ở khắp các xã là nguồn cung cấp chủ yếu nước sinh hoạt cho nhân dân và nước tưới cho sản xuất. Hệ thống sông suối, hồ đập dải đều khắp trên địa bàn huyện nên thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thủy lợi. Bình Gia có hồ Phai Danh (Văn Thụ) rộng 13 – 15 ha có sức chứa 3,3 triệu m3 cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất cho một số xã xung quanh thị trấn Bình Gia. Bình Gia là một huyện nghèo khoáng sản, chỉ có đá vôi và cát sông, có khả năng khai thác sử dụng làm đường giao thông và xây dựng của nhân dân.

Trên địa bàn huyện Bình Gia có mỏ than bùn ở xã Hoàng Văn Thụ, trữ lượng khoảng vài trăm ngàn tấn có thể khai thác để sản xuất phân vi sinh mang lại nguồn thu đáng kể trong nền kinh tế trên địa bàn huyện. Ngoài ra, huyện còn có một số kim loại quý như vàng sa khoáng (ở khu vực xã Tân Văn, Hồng Phong), quặng sắt, Ăngtymol (ở xã Hoa Thám), tuy nhiên trữ lượng nhỏ không đáng kể. Bình Gia còn có một khối lượng đá vôi lớn tập trung ở các xã Tô Hiệu, Tân Văn. Hoàng Văn Thụ, thị trấn Bình Gia… làm nguyên liệu cho công nghiệp khai thác sản xuất vật liệu xây dựng, đá xẻ, đá ốp lát phục vụ cho các công trình xây dựng trên địa bàn huyện và tỉnh Lạng Sơn.

Bình Gia có nhiều hang động, trong đó có hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai là những di chỉ khảo cổ học đã được xếp hạng. Ở đó các chuyên gia khảo 8 cổ học đã phát hiện ra hóa thạch xương người Việt cổ cách đây 25 vạn năm. Đồng thời Bình Gia còn nằm trên tuyến du lịch Thành phố Lạng Sơn – Đồng Đăng – Bắc Sơn. Các dân tộc huyện Bình Gia có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc như hát Then, hát Sli, hát lượn của các dân tộc Tày, Nùng, các ngày lễ hội ở Pắc Khuông,Văn Mịch… Trong tương lai nơi đây sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động có giá trị.

Rừng nguyên sinh ở Bình Gia có diện tích khá lớn, với nhiều loại gỗ quý như: lát, lim, vàng tâm, nghiến,… Theo số liệu điều tra năm 2009, huyện Bình Gia có 56.850 ha đất rừng, chiếm 52,1% diện tích tự nhiên. Trong đó đất rừng sản xuất là 38.427,43 ha, đất rừng phòng hộ là 18. Diện tích rừng trồng tập trung mới đạt 511,0 ha với các loại cây chủ yếu như hồi, mỡ, thông, keo. đặc biệt cây hồi có điều kiện phát triển nhanh.

Trên địa bàn huyện còn có khu rừng đặc dụng Lân Luông (xã Thiện Hòa) còn bảo tồn được nhiều cây gỗ quý: nghiến, lát hoa, đinh và nhiều loại sản vật có giá trị như sa nhân, nấm hương, mộc nhĩ… Rừng ngoài việc cung cấp gỗ, lâm sản còn góp phần quan trọng vào việc điều tiết cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường. Tài nguyên động vật tương đối phong phú với nhiều loài quý hiếm như gà lôi, hươu nai, lợn rừng, nhím, sóc,… Tuy nhiên do diện tích rừng suy giảm mạnh, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, cùng với tập quán săn bắt thú rừng bừa bãi của dân cư miền núi nên hầu hết các loài thú quý hiếm trên đã bị suy giảm về số lượng loài và cá thể, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.2 Lịch sử hành chính Bình Gia là huyện có lịch sử lâu đời. Qua những cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ học, các nhà sử học đã phát hiện dấu tích của người vượn cổ và nhiều hóa thạch khác ở hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên thuộc xã Tân Văn. Những dấu tích đó là những mảnh tước, rìu, răng … thuộc về văn hóa Bắc Sơn trong thời kì đầu thời đại đồ đá mới mà người vượn dùng để kiếm ăn hàng ngày cách đây hàng vạn năm (ở hang Kéo Lèng xã Tân Văn).

Theo Địa chí Lạng Sơn: “Đầu thế kỷ XIX về trước, vùng đất Bình Gia hiện nay thuộc về châu Văn Quan (tổng Bằng Gia, tổng Uy Mãnh) và Văn 9 Uyên (tổng Hóa Nhân) thuộc Phủ Tràng Khánh. Cho đến thời Tự Đức thì Bình Gia thuộc về châu Văn Uyên, huyện Văn Quan của phủ Tràng Định”[4, tr. Cuối năm 1980, thực dân Pháp đánh chiếm Bình Gia. Đến năm 1885, Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở châu Bình Gia.

Tháng 9-1894 thực dân Pháp tách hai tổng Bằng Gia và Tuyền Cam của châu Văn Quan lập thành một đơn vị hành chính mới là châu Bình Gia. Từ năm 1891 đến 1905 châu Bình Gia là một châu thuộc hạt Thất Khê, trên phần lãnh thổ của Quân chính đạo số 1 do thực dân Pháp lập ra. Đến năm 1907 châu Bình Gia gồm 5 tổng (Bằng Gia, Cam Thủy, Hóa Nhân, Oai Mãnh, Yên Hùng) và 23 xã: Bằng Gia, Vũ Khê, Tĩnh Sóc (tổng Bằng Gia), Cam Thủy, Thuần Như, Tồng Chu, Đinh Bảo, Phụng Cống (tổng Cam Thủy), Hóa Nhân, Dưỡng Nông, Xuân Dục, Bác Hóa (tổng Hóa Nhân), Oai Mãnh, Vân Mịt, Lãng Dương, Văn Định, Tòng Lệnh, Huãn Phing (tổng Oai Mãnh), Yên Hùng, Yên Lỗ, Bảo Thiệu, Quý Hòa, Yên Tùng (tổng Yên Hùng).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ về làng bản người Nùng tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn (1986-2013) cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển văn hóa, xã hội và kinh tế của cộng đồng người Nùng trong khoảng thời gian này. Tài liệu không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi trong đời sống của người dân mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội mà họ phải đối mặt. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức bảo tồn văn hóa truyền thống trong bối cảnh hiện đại, cũng như các chính sách phát triển nông thôn có thể áp dụng cho các cộng đồng tương tự.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến phát triển nông thôn và sự tham gia của cộng đồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cộng đồng trong việc xây dựng nông thôn mới.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, nơi nêu ra các chiến lược cụ thể để phát triển nông thôn bền vững.

Cuối cùng, tài liệu Giải pháp huy động nguồn lực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về cách thức huy động nguồn lực cho các chương trình phát triển nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến phát triển cộng đồng và nông thôn.