Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nhiệt nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng nhiệt năng ở nhà máy xi măng bình phước bằng phương pháp exergy

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu kỹ thuật nhiệt nghiên cứu cải thiện kết quả sử dụng nhiệt năng ở nhà máy xi măng bình phước bằng, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Kỹ thuật nhiệt

Tác giả

Hoàng Ngọc Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

109
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nâng cao hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại nhà máy xi măng Bình Phước

Luận văn tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại nhà máy xi măng Bình Phước bằng phương pháp Exergy. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu suất nhiệt hiện tại và đề xuất các giải pháp kỹ thuật để tối ưu hóa quy trình sản xuất. Phương pháp Exergy được sử dụng để phân tích các tổn thất nhiệt và xác định các điểm cần cải thiện. Kết quả cho thấy, việc áp dụng các giải pháp này có thể thu hồi tới 68,4% lượng exergy thất thoát qua khói thải và khí nóng từ cooler.

1.1. Phương pháp Exergy trong phân tích nhiệt năng

Phương pháp Exergy là công cụ hiệu quả để đánh giá hiệu suất nhiệttổn thất năng lượng trong các hệ thống công nghiệp. Tại nhà máy xi măng Bình Phước, phương pháp này được áp dụng để phân tích các quá trình nhiệt, bao gồm nung clinker và làm mát. Kết quả phân tích cho thấy, các tổn thất exergy chủ yếu xảy ra ở hệ thống preheater và cooler. Việc tận dụng nhiệt thải từ các quá trình này có thể giúp tiết kiệm năng lượnggiảm thiểu tổn thất nhiệt.

1.2. Đề xuất giải pháp kỹ thuật

Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất bao gồm việc thu hồi nhiệt thải từ khói thải và khí nóng để cấp nhiệt cho các quá trình khác hoặc phát điện. Một giải pháp cụ thể là sử dụng hệ thống thu hồi nhiệt thải (WHRS) để tạo ra điện năng, giúp giảm chi phí năng lượng và bảo vệ môi trường. Các giải pháp này không chỉ cải thiện hiệu suất mà còn mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho nhà máy.

II. Hiện trạng sử dụng nhiệt năng tại nhà máy xi măng Bình Phước

Nhà máy xi măng Bình Phước hiện đang sử dụng một lượng lớn nhiệt năng trong quá trình sản xuất clinker. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng nhiệt chưa được tối ưu, dẫn đến tổn thất năng lượng đáng kể. Luận văn đã tiến hành thu thập dữ liệu và phân tích hiện trạng sử dụng nhiệt năng, từ đó xác định các điểm cần cải thiện. Kết quả cho thấy, việc áp dụng công nghệ tiên tiếnquản lý năng lượng hiệu quả có thể giúp giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu suất tổng thể.

2.1. Quy trình sản xuất clinker

Quy trình sản xuất clinker tại nhà máy xi măng Bình Phước bao gồm các giai đoạn chính như nghiền nguyên liệu, nung clinker và làm mát. Quá trình nung clinker tiêu thụ một lượng lớn nhiệt năng, nhưng hiệu suất sử dụng nhiệt chưa cao. Phân tích Exergy cho thấy, các tổn thất nhiệt chủ yếu xảy ra ở hệ thống preheater và cooler. Việc tối ưu hóa nhiệt trong các quá trình này có thể giúp giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu suất sản xuất.

2.2. Thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu về sử dụng nhiệt năng tại nhà máy xi măng Bình Phước được thu thập và phân tích chi tiết. Kết quả cho thấy, các tổn thất exergy chủ yếu xảy ra ở hệ thống preheater và cooler. Việc áp dụng các giải pháp nhiệt như thu hồi nhiệt thải và tối ưu hóa quy trình có thể giúp giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu suất sử dụng nhiệt năng.

III. Phân tích và đánh giá hiệu quả của các giải pháp

Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất trong luận văn đã được phân tích và đánh giá về hiệu quả kinh tế và kỹ thuật. Kết quả cho thấy, việc thu hồi nhiệt thải từ khói thải và khí nóng có thể giúp tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí sản xuất. Đồng thời, các giải pháp này cũng góp phần bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu lượng khí thải ra môi trường. Phân tích tài chính cho thấy, các giải pháp này có thời gian hoàn vốn ngắn và mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho nhà máy.

3.1. Phân tích lợi ích chi phí

Phân tích lợi ích - chi phí của các giải pháp kỹ thuật cho thấy, việc thu hồi nhiệt thải và tối ưu hóa quy trình sản xuất có thể giúp tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí sản xuất. Các giải pháp này có thời gian hoàn vốn ngắn và mang lại lợi ích kinh tế đáng kể cho nhà máy xi măng Bình Phước.

3.2. Đánh giá hiệu quả môi trường

Các giải pháp kỹ thuật được đề xuất không chỉ giúp tiết kiệm năng lượng mà còn góp phần bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu lượng khí thải ra môi trường. Việc áp dụng các giải pháp này có thể giúp nhà máy đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường và nâng cao hình ảnh doanh nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nhiệt nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng nhiệt năng ở nhà máy xi măng bình phước bằng phương pháp exergy

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan ngành sản xuất xi măng 1.1 Giới thiệu ngành sản xuất xi măng trong nước Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành sớm nhất ở Việt Nam (ngày 25/12/1889 khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên tại Hải Phòng). Đến nay đã có khoảng 90 công ty, đơn vị tham gia trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất, trong đó khoảng 33 thành viên thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam (VICEM), 5 công ty liên doanh, và hơn 50 công ty nhỏ và các trạm nghiền. Hiện tại, ở Việt Nam có 2 nguồn cung cấp xi măng cho thị trường là: nguồn sản xuất trong nước và nguồn xi măng nghiền từ clinker nhập khẩu. Năm 2001 tiêu thụ xi măng ở Việt Nam là 16,38 triệu tấn, nhưng đến năm 2008 tiêu thụ là 40,1 triệu tấn, năm 2009 tiêu thụ khoảng 45,3 triệu tấn và năm 2010 tiêu thụ khoảng 51 triệu tấn.

Tốc độ tăng trong tiêu thụ xi măng ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010 trung bình khoảng 15,7%/năm, trong những năm từ 2006 đến nay trung bình tăng 11%/năm. Trong những năm qua, ngành xi măng đã đóng góp một phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trung bình chiếm 10% - 12% GDP. Theo đánh giá, từ năm 2000 – 2009, lượng xi măng sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ nội địa do việc xây dựng phát triển mạnh. Tuy nhiên, đến hết năm 2010, tổng số dây chuyền sản xuất xi măng đã đầu tư và khai thác là 106 với tổng công suất thiết kế đạt 66,04 triệu tấn/năm.

 59 dây chuyền công nghệ lò quay với tổng công suất thiết kế là 62,56 triệu tấn.  47 dây chuyền công nghệ lò đứng với công suất thiết kế khoảng 3,84 triệu tấn. Dưới đây là số liệu về sản xuất và tiêu thụ xi măng của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010: 1 Bảng 1.1: Hiện trạng sản xuất và sử dụng xi măng của VN giai đoạn 2000 - 2010 (Triệu tấn) 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Sản lượng 12,7 14,64 16,8 18,4 20 21,7 23,6 26,9 32,3 44 54 Tiêu thụ 13,62 16,48 20,5 24,38 26,5 28,2 32,1 35,8 39,9 45,3 51 Nhập khẩu 0,2 1,33 3,75 5,98 6,0 6,5 8,5 8,9 10 3,8 - 60 50 Triệu tấn xi măng 40 30 20 10 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tiêu thụ thực tế Sản lượng sản xuất Hình 1.1 Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ xi măng của Việt Nam từ 2000 - 2010 Như vậy, sản lượng sản xuất xi măng trong các năm 2008 – 2010 liên tục tăng. Đến năm 2010, năng lực sản xuất xi măng đã vượt nhu cầu.

Hiện nay sản phẩm xi măng trên thị trường có nhiều loại, tuy nhiên thông dụng vẫn gồm hai loại sản phẩm chính là:  Xi măng Portland chỉ gồm thành phần chính là clinker và phụ gia thạch cao, được ký hiệu theo dạng PC30, PC40, PC50.  Xi măng Portland hỗn hợp ngoài thành phần chính là clinker và thạch cao, còn một số thành phần phụ gia khác như đá puzzoland, xỉ lò. Trên thị trường các loại xi măng này có tên gọi PCB30, PCB40.2 Ngành xi măng thế giới Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng, tuy nhiên các nước có ngành công nghiệp xi măng chiếm sản lượng lớn của thế giới thuộc về Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ở khu vực Đông Nam Á là Thái Lan và Indonesia, Việt Nam. Nhu cầu tiêu thụ xi măng trên toàn cầu không ngừng tăng.

Từ năm 1950 cho đến nay, sản lượng xi măng liên tục tăng cùng với sự phát triển trong công nghệ sản xuất xi măng. Lượng xi măng tiêu thụ năm 2005 trên toàn thế giới là 2.283 triệu tấn và đến năm 2010 đã lên tới 3.294 triệu tấn (hình 1.2 Tiêu thụ xi măng trên thế giới [7] Theo dự báo nhu cầu sử dụng xi măng từ nay đến năm 2020: Tăng hàng năm 3,6% năm nhu cầu sử dụng xi măng có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực trên thế giới (nhu cầu các nước đang phát triển 4,3% năm, riêng châu Á bình quân 5%/năm, các nước phát triển xấp xỉ 1%/năm). 3 Hiện nay đã xuất hiện tình trạng dư thừa công suất của các nhà máy là phổ biến ở Đông Âu, Đông Nam Á. Các nước tiêu thụ lớn xi măng trong những năm qua phải kể đến: Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật bản, Hàn Quốc, Nga, Tây Ban Nha, Italya, Braxin, Iran, Mê hy cô, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Ai Cập, Pháp, Đức.3 Trình độ công nghệ và năng lực sản xuất trong nước Số nhà máy xi măng trên toàn Việt Nam được chia thành 3 nhóm chính: nhóm trực thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, các đơn vị liên doanh với nước ngoài và các nhà máy xi măng được những tập đoàn và công ty tư nhân tự đầu tư xây dựng.

Tổng cộng trên cả nước có gần 100 nhà máy sản xuất xi măng. Hiện nay, Việt Nam tồn tại song song hai loại công nghệ sản xuất xi măng:  Công nghệ sản xuất xi măng lò đứng  Công nghệ sản xuất xi măng lò quay Công nghệ sản xuất xi măng lò đứng: chủ yếu là lò đứng nhập từ Trung Quốc, phát triển mạnh từ thập kỷ 80 thế kỷ trước. Bên cạnh hạn chế về năng suất của mỗi lò (đạt 80.000 tấn/năm), lò đứng còn bị hạn chế về việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Thị trường hiện còn chấp nhận xi măng lò đứng sử dụng cho các công trình xây dựng nhỏ.

Tuy nhiên, theo quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp ngành xi măng ở Việt Nam, tất cả các lò đứng và lò quay phương pháp ướt sẽ phải đóng cửa vào năm 2020. Công nghệ sản xuất xi măng lò quay: có nguồn cung cấp thiết bị chủ yếu là Châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc. Công nghệ sản xuất xi măng lò quay có công suất lớn nên được cơ giới hóa và tự động hóa cao, tiêu tốn ít nhiên liệu, tiết kiệm nhiên năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Hiện nay, công nghệ sản xuất xi măng lò quay đang dần thay thế công nghệ sản xuất xi măng lò đứng và lò quay phương pháp ướt.

4 Trong thời gian vừa qua, Việt Nam nhập nhiều dây chuyền sản xuất xi măng lò quay công suất nhỏ của Trung Quốc (công suất nhỏ hơn 1200 t/d). Các dây chuyền này thường không được đồng bộ, và hệ thống tự động hóa chưa cao, nên tiêu tốn nhiều năng lượng, tổn thất nguyên liệu lớn và gây ô nhiễm môi trường. Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp, Trung Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng. Hiện nay với các dự án dây chuyền, nhà máy xi măng lớn sẽ thay thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất được tăng lên gấp nhiều lần.

Cung vượt cầu là tình trạng mà ngành xi măng đang phải đối mặt. Vì vậy xuất khẩu xi măng được coi là giải pháp giúp ngành vượt qua giai đoạn khó khăn này. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh chính là tăng chất lượng sản phẩm. Chủ trương của chính phủ, đến năm 2015 chấm dứt hoạt động của tất cả hệ thống xi măng lò đứng và chuyển sang xi măng lò quay và đến năm 2015 tất cả các nhà máy phải tự túc ít nhất 20% năng lượng điện từ việc tận dụng nguồn nhiệt khí thải thừa.

Tổng công suất thiết kế của các nhà máy xi măng Việt Nam là 68,5 triệu tấn. Trong đó 11 công ty xi măng lớn chiếm hơn 50%, Hà Tiên 1 có công suất thiết kế lớn nhất với 7,3 triệu tấn/năm. Các nhà máy xi măng lớn của Việt Nam được liệt kê trong bảng sau: Bảng 1.2: Công suất thiết kế của các nhà máy xi măng lớn của Việt Nam STT Nhà máy xi măng Địa điểm Công suất hiện tại (ngàn tấn) 1 Hoàng Thạch Hải Dương 4.000 4 Chinfon Hải Phòng 4.000 6 Hoàng Mai Nghệ An 1.400 7 Tam Điệp Ninh Bình 1.400 8 Hải Phòng Hải Phòng 1.400 9 Phúc Sơn Hải Dương 4.000 10 Holcim Kiên Giang 3.600 11 Hà Tiên 1 TP HCM 7.300 Tổng công suất 38.900 Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, năm 2013 sẽ có 6 nhà máy xi măng với công suất 6,72 triệu tấn đi vào hoạt động, tổng công suất cả nước lên trên 75 triệu tấn/năm. Đó là Nhà máy XM X18 công suất 1.000 tấn/ngày; Nhà máy XM 12/9 Nghệ An (XM Dầu khí) công suất 0,6 triệu tấn/năm; Nhà máy XM Trung Sơn – Bình Minh (Hòa Bình) 0,91 triệu tấn/năm; Nhà máy XM Hương Sơn 0,35 triệu tấn/năm; XM Mai Sơn (Sơn La) 0,91 triệu tấn/năm; XM Công Thanh 2 (Thanh Hóa) 3,6 triệu tấn/năm.4 Quy trình sản xuất xi măng Quy trình sản xuất xi măng điển hình được trình bày như sau: 6 Hình 1.3 Quy trình sản xuất xi măng 7 Quy trình sản xuất xi măng được tóm tắt qua các công đoạn sau:  Nguyên liệu: Khai thác từ mỏ Mỏ - đá vôi, macnơ và đất sét cũng như những vật liệu chứa các oxid nhôm, sắt, canxi, silic được lấy từ mỏ bằng kĩ thuật nổ mìn hay khoan.

 Nguyên liệu được chuyển đến máy đập Máy đập - vật liệu từ mỏ được làm giảm kích thước bằng những máy đập khác nhau. Các khối đá được làm giảm kích thước từ 120 cm đến khoảng từ 1,2 – 8 cm. Vật liệu thô (đất sét) cũng có thể cần được sấy để việc pha trộn và đập hiệu quả hơn.  Nguyên liệu được chuyển đến băng tải Băng tải - vật liệu thô được vận chuyển riêng biệt từ mỏ bằng những băng tải, xe goòng hoặc những biện pháp hậu cần thích hợp khác đến nhà máy.

 Trộn vật liệu Lớp trộn - đá vôi đã nghiền và đất sét được trộn đồng nhất và lưu kho dự trữ. Chuẩn bị đưa vào nghiền và sấy trong lò nung. 8  Nghiền thô Nghiền thô - các vật liệu thô được nghiền và sấy trong máy nghiền con lăn. Những con lăn lớn được lắp trên một bàn xoay và vật liệu thô được nghiền cho đến khi chúng đủ mịn để chuyển đến silo đồng nhất bằng không khí.

 Lọc bụi Túi lọc bụi - bao gồm nhiều túi lọc bằng vải hoặc nỉ để tách các hạt mịn từ khí thải lò. Khí thải từ nhiều lò nung được dùng để sấy vật liệu thô, vì vậy cải thiện việc sử dụng năng lượng hiệu quả của nhà máy.  Gia nhiệt Gia nhiệt - những cylon gia nhiệt sẽ nâng nhiệt độ của bột liệu thô lên cao trước khi vào lò nung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ