Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THUC TIEN VE TU DO HOA TÀI CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHAP KINH TE QUOC TE 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tự do hóa tài chính là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tự do hóa tài chính giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại động lực phát triển cũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính đa dang, chất lượng cao. Những lợi ích tiềm năng của tự do hoá tài chính là rất lớn, nhưng bên cạnh đó cũng có những mặt trái được cho là nguyên nhân dẫn đến đồ vỡ, khủng hoảng tài chính.
Dé tìm ra câu trả lời thích đáng cho những vấn đề liên quan đến tự do hóa tài chính, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, thậm chí là của các định chế tài chính lớn như WB, IME. về vấn đề này. Nội dung nghiên cứu của tự do hóa tài chính rất rộng, nhưng có thể tạm chia các công trình nghiên cứu thành các nhóm van đề sau: Những khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm về tự do hóa tài chính: bản chất, lợi ích và chi phí, những điều kiện tiền đề, mức độ tự do hóa tài chính được dé cập tới trong một số nghiên cứu của J. Stiglitz (2000), Gerard Caprio, Patrick Honohan and Joseph E.
Cu thé như: Gerard Caprio, Patrick Honohan and Joseph E. Stiglitz (2004), Financial Liberalization: How Far? How Fast?, Joumal of Comparatlve Economics, 2004, vol. 32; chi ra ban chat của tự do hóa tai chính và mức độ tiến hành tự do hóa tài chính. Ronald McKinnon (1993), The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy, Baltimore, Johns Hopkins University Press, 1993 thì nói rõ về trình tự tự do hóa tài chính.
Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia về tự do hóa tài chính: các lựa chọn biện pháp và lộ trình; phân tích nguyên nhân của thành công và thất bại. Các tác giả tiêu biểu là Akira Ariyoshi, Karrl Habermeier, Bernarrd Laurens, Inci Otker-Robe (trong các chương trình nghiên cứu của IMF, WB tiến hành sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997), John Williamson và Molly Mahar (1998), Barry Eichengreen and Michael Mussa (1998), Bernhard Fischer và Reisen Helmut (1992), Ronald Mckinnon (1993). Trong nghiên cứu của Barbara Stallings (2004) thì chi rõ bài học về thành công và thất bại từ Châu Mỹ latinh và Đông A khi tiến hành tự do hóa tài chính. Ở Việt Nam, Dé tài khoa học cấp bộ của Trịnh Quang Long (2006), 7 do hóa tài chính và rủi ro phát sinh: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị một lộ trình cho Việt nam đi sâu nghiên cứu về tự do hóa tài chính gan với các rủi ro có liên quan; Đề tài nghiên cứu đặc biệt mã số QG.
Đại học Quốc gia Hà Nội của Trần Thị Thái Ha (2006). 7 do hóa tài chính:Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và những vấn dé đặt ra cho Việt Nam lại chủ yếu nghiên cứu về van đề kiềm chế tài chính tiến tới tự do hóa tài chính và kinh nghiệm của một số quốc gia; Bùi Ngọc Son (2010), 7 do hóa tài chính — Một xu hướng mang tính toàn cầu, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, đề tài này đã chỉ ra triển vọng của xu hướng tự do hóa tài chính trên toàn cầu, đây vẫn là vấn đề còn tiếp diễn bất chấp những biến động mạnh trong môi trường kinh doanh toàn cầu thời gian qua; Nguyễn Toàn Thang (2010), Lý ludn và thực tiễn về tự do hóa các giao dịch vốn và sự ồn định khu vực tài chính Việt Nam: Khuôn khổ chính sách đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, đề tài này đề cập đến vấn dé tự do hóa giao dịch vốn trong mối quan hệ với sự ồn định của khu vực tài chính ở Việt Nam; Đề cập đến mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và tăng trưởng kinh tế có nghiên cứu của Trần Anh Tuấn (2002), Tác động của việc tự do hoá tài chính đến tăng trưởng kinh tế- ly luận & thực tiễn ở Việt nam, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chi Minh. Một số nghiên cứu của Bộ kế hoạch và đầu tư - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc; Dự án VIE/02/009, Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa dịch vụ tài chính: trường hop ngành ngân hàng, tháng 12-2005; Nguyễn Dai Lai, Tu do hoá tài chính — Xu thé và giải pháp chính sách cho ngân hàng Việt Nam thời kỳ hậu WTO; Tự do hóa tài chính ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, luận án tiễn sỹ của Bùi Thị Thanh Tình (2013) nghiên cứu sâu về thực trạng, lộ trình và các giải pháp tự do hóa tài chính của Việt Nam đặc biệt giai đoạn sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 200; Tw do hóa dịch vụ tài chính trong tiễn trình hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế của Đặng Văn Dân (2007) đề cập đến quá trình tự do hóa các dịch vụ tài chính tại Việt Nam như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và một số giải pháp thúc đây tự do hóa các giao dịch tài chính nêu trên. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và khủng hoảng có một số các nhà nghiên cứu nôi tiếng: Krugman và Obstfeld (1979) là hai học giả đầu tiên lý giải về sự nỗ ra của khủng hoảng tài chính xuất phát từ chính sách tự do hóa tài khoản vốn.
Ông cho răng ở các quốc gia cơ chế tỷ giá được quan lý không hợp lý có thé dẫn tới khủng hoảng khi các nhà đầu tư nước ngoài rút von 6 at gây ra sự cạn kiệt cua dự trữ ngoại hối. Obstfeld 4 (1996) đưa ra lập luận trên cơ sở mô hình của Krugman và chỉ ra rằng, mặc dù có cơ chế điều hành ty giá hop lý, tuy nhiên khủng hoảng tài chính vẫn có thê nổ ra nếu như kỳ vọng của thị trường đột ngột Các nghiên cứu liên quan đến nội hàm “ổn định tài chính” hay “an ninh tài chính” khi các quốc gia hay nền kinh tế thực hiện quá trình tự do hóa tài chính. Khái niệm về “ôn định tài chính” đã được các nhà nghiên cứu trên thê giới luận giải theo nhiều cách khác nhau. Adrew Crockett (1997) đưa ra định nghĩa “ôn định tài chính” là các tổ chức nòng cốt trong hệ thống tài chính hoạt động 6n định, niềm tin của các chủ thể kinh tế vào các định chế tài chính va thị trường tài chính ở mức độ cao.
Schinasi (2005), “ổn định tải chính” nghĩa là một hệ thống tài chính duy trì ở trạng thái không có khủng hoảng và có khả năng (1) tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực kinh tế (giữa tiết kiệm và đầu tư, cho vay va vay von, tao thanh khoản và phân phối đúng mục đích); (2) đánh giá, phân bổ va quan lý rủi ro tài chính; và (3) duy trì khả năng của mình dé thực hiện các chức năng chính ngay cả khi phải đối mặt với những cú sốc bên ngoài hoặc tích tụ sự mat cân băng bên trong. Ngoài ra, nhiều ngân hàng trung ương của các nước cũng đã đưa ra định nghĩa về ôn định tài chính theo cách của riêng mình. Trong đó, theo Ngân hàng Trung ương Achentina, "ổn định tài chính” là một tình trạng mà khu vực dịch vụ tài chính có thể huy động tiết kiệm của người dân và cung cấp một hệ thống thanh toán trên toàn quốc một cách có hiệu quả, an toàn và bền vững theo thời gian. Theo Ngân hàng Liên bang Đức, “ổn định tài chính” là khả năng của hệ thống tài chính vận hành tốt các chức năng kinh tế vĩ mô ngay cả trong thời kỳ kinh tế căng thắng và điều chỉnh cơ câu.
Còn đối với Ngân hàng Trung ương Châu Âu, “ổn định tài chính” là một tình trạng mà hệ thống tài chính bao gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng thị trường tài chính có khả năng chịu đựng những cú sốc và lay lai su can bang tài chính bằng cách thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính, tránh để xảy ra sự gián đoạn của các hoạt động trong hệ thống tài chính. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu liên quan đến an ninh tài chính và luận giải khái niệm an ninh tài chính theo cách của mình. Theo Nguyễn Văn Nam và cộng sự (2001), “an ninh tài chính là sự đảm bảo cho hệ thống tài chính được ổn định lâu dài, không bi ton thương, có khả năng ngăn ngừa, chống đỡ hoặc hap thụ một cách hiệu quả những mối đe dọa hay tác động tiêu cực của các cú sốc trong và ngoài nước, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế”. Nguyễn Toàn Thắng và cộng sự (2010) cho răng “ổn định tài chính” là khi hệ thống tài chính có (1) cơ sở nên tảng tốt về khuôn khổ pháp lý, khuôn khô chính sách, cơ chế điều hành, hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin, hệ thống kế toán, hệ thống thông tin tín dụng.
đầy đủ, rõ ràng; (2) hệ thống giám sát nhằm quản trị rủi ro, duy trì kỷ luật thị trường, tránh cho khu vực tài chính bị tốn thương; (3) các yêu tố môi trường thuận lợi tạo điều kiện kinh tế vĩ mô. Nhóm nghiên cứu liên quan đến giải pháp kiểm soát tự do hóa tài chính mà cụ thé là các dong vốn nước ngoài, các nghiên cứu của C.Kwan (1998), Schadler và các cộng sự (1993), Fernandez-Arias va Montiel (1995), Grenville (2008) Kawai (2008), và Schadler (2008) đã đưa ra các nhóm công cụ được sử dụng dé điều tiết sự di chuyên của các dòng vốn nước ngoài là kiểm soát vốn trực tiếp, các công cụ thuộc nhóm chính sách kinh tế vĩ mô và các biện pháp liên quan đến thé chế.Kwan (1998), kiểm soát vốn trực tiếp bao gồm (1) hạn chế những người không cu trú mua lại các chứng khoán nội địa hoặc hạn chế tiền gửi ngân hàng của những người không cư trú, (2) hạn chế các hoạt động tăng quỹ ở nước ngoài và các giao dịch ngoại hối kỳ hạn, (3) yêu cầu mở các vị thế ngoại hối ở ngân hàng và kiểm soát vốn gián tiếp bao gồm đánh thuế vào các khoản vay nước ngoài ngắn hạn và yêu cầu tỷ lệ dự trữ ngoại hối cao và thu thuế đối với các khoản tiền gửi ngân hàng của những người không cư trú.