CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN KHAI THÁC THUỶ SẢN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHAI THAC THUY SAN [8] LLL Ki :m về khai thác thủy sản Khai thác thủy sản là hoạt động của con người sử dụng các công cụ và nhiều phương pháp khác nhau để tác động tới đối tượng các tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên khác nhau và môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu. của con người và xã hội về các sản phẩm hàng hóa thủy sản. Quá trình khai thác thủy sản cũng chính là quá trình tương tác giữa con người và tự nhiên vì mục đích của con người hay đây là hoạt động chủ quan của con người.
Trong điều kiện các các tài nguyên sinh vật trong vùng nước. tự nhiên tồn tại vận động theo các quy luật của tự nhiên. Do vậy, nếu quá trình khai thác này phù hợp với quy luật tự nhiên thì sẽ tác động tốt còn không thì hậu quả sẽ khó lường. Đặc điểm của khai thác thủy sản Do sự giống nhau giữa các sinh vật hải sản và các động thực vật cũng như khả năng tái sinh tự nhiên của chúng nên trước đây người ta coi khai thác thủy sản thuộc ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên khai thác thuỷ sản là ngành công nghiệp đặc thù bởi nó có các đặc điểm sau ~ Quá trình sản xuất trong nông nghiệp bao giờ cũng gắn với tự nhiên và thời gian sản xuất tách rời thời gian lao động. Trong khai thác thủy sản thì thời gian lao động và thời gian sản xuất trùng nhau. Đặc điểm này khẳng định ngành khai thác thủy sản là một bộ phận của ngành công nghiệp. Do đó tổ chức sản xuất của ngành khai thác mang đặc trưng của tổ chức sản xuất công nghiệp ~ Ngành khai thác thủy sản đối tượng khai thác là các sinh vật biển, chúng là những tài nguyên thiên nhiên sẵn có.
Đặc điểm này nói lên công nghiệp khai thác hải sản mang tính chất của công nghiệp khai thác tài nguyên, tuy nhiên đây là những tài nguyên có khả năng tái sinh và khả năng tái sinh này ngày càng phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người trong việc tổ chức đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi. Do đó đòi hỏi phát triển ngành khai thác hải sản phải gắn chặt với việc bảo vệ nguồn lợi, tổ chức khai thác hợp lý các tài nguyên nguồn lợi thủy sản. ~ Ngành khai thác thủy sản bao gồm nhiều nghề. Mỗi nghề khai thác một hoặc một số đối tượng nhất định, nhưng phần lớn đều được dùng làm thực phẩm cho người và chăn nuôi.
Do đó việc phát triển ngành khai thác thủy sản gắn với đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về thực phẩm cho xã hội. ~ Đối tượng khai thác của ngành khai thác thủy sản là những sinh vật di động, không bị rang buộc bởi sự phân chia địa giới hành chính, cường độ lao động trong ngành khai thác thủy sản lớn và sản xuất trong điều kiện sóng gió nguy hiểm, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, ngư trường, mùa vụ. Ngoài 4 đặc điểm nói trên, ngành khai thác thủy sản nước ta hoạt động trong điều kiện của nguồn lợi thủy sản nhiệt đới, đa dạng về chủng loại dẫn đến nghề nghiệp khai thác đa dạng, qui mô nhỏ chủ yếu là đánh bắt ven bờ (chiếm hơn 80% sản lượng khai thác). Nói cách khác ngành khai thác thủy sản ở nước ta mang đặc tính của nghề cá đa loài, qui mô nhỏ.
Đặc điểm này gay nhiều khó khăn trong việc áp dụng lý thuyết và mô hình kinh tế trong nghiên cứu, phân tích và để ra chính sách quản lý. Điều này đòi hỏi để phát triển khai thác thuỷ sản phải dựa chủ yếu vào thành phần kinh tế tư nhân và tập thể, xây dựng và áp dụng mô hình quản lý thủy sản mang tính đặc thù, thích hợp với tập quán và truyền thống văn hóa của từng vùng, từng khu vực eư dân ven biển, phát triển mô hình Quản lý nghề cá trên cơ sở cộng đồng hoặc Đồng quan ly. Vai trò khai thác thuỷ sản Khai thác là một bộ phận cấu thành của ngành Thuỷ sản, là nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế biến và một phần cho nuôi trồng. Ngày nay do nhu cầu tiêu dùng sản phẩm sạch tự nhiên ngày càng gia tăng và các sản phẩm.
sạch từ nuôi chưa đáp ứng kịp, sản phẩm khai thác từ biển lại rất cần thiết cho con người, tuy nhiên nguồn lợi có hạn, điều này đòi hỏi con người phải có các biện pháp chủ quan để nghề khai thác phát triển có hiệu quả và bền vững gắn chặt đến ngư dân, ngư trường nguồn lợi. Hoạt động đánh bắt thường đóng vai trò chính về kinh tế khu vực ven biển, mang lại nhiều lợi ích cho địa phương, nguồn thu ngoại hồi và việc làm nên trong khi giúp duy trì các cộng đồng ven biển và truyền thống văn hoá của họ, phát triển khai thác sẽ đạt được nhiều lợi ích phụ rộng lớn. Khai thác thuỷ sản có thể tăng cường an ninh lương thực và khả năng tự lực trong sản xuất lương thực bằng cách cải thiện việc cung cấp nguồn protein từ thuỷ sản thông qua mức sản lượng tối ưu và bằng cách tăng cường khả năng quản lý trong thuỷ sản và quản lý chất lượng trong khâu sau thu hoạch. Công cụ và phương pháp quản lý khai thác thuỷ sản Trên thế giới có hai cơ chế tiếp cận nguồn lợi thủy sản là cơ chế tiếp.
Các nước phương Tây tuân thủ “cơ chế tiếp cận mở”, Chính phủ quản lý nguồn lợi thủy sản theo phương pháp từ trên xuống. Nhật Bản, Hàn Q\ „ Đài Loan tuân thủ ép cn han ché”, tạo ra hệ thống quản lý nghề sá dựa vào cộng đồng. Tiếp cận mở được sử dụng với cách: tiếp cận mở hoàn toàn và tiếp cận mở có quy định. Kinh nghiệm thé gi ¡ cho thấy hệ thống tiếp cận nguồn lợi mở mà bất ky ai cũng có quyền khai thác có thé gây ra hiệu quả nghiêm trọng, nếu không kiểm soát sẽ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức và làm giảm lợi nhuận của mọi người tham gia.
Điều này đã xảy ra từ nghề khai thác quy mô 10 nhỏ đến nghề khai thác quy mô lớn ở cấp quốc gia và quốc tế được gọi là “ Bỉ kịch tài sản chung”. Tiếp cận mở có quy định, cơ quan quản lý chỉ hạn chế tổng sản lượng khai thác (TAC) mà không kiểm soát quy mô đội tàu, ngư dân sẽ coi sản lượng đánh bắt bị giới hạn bởi quỹ sản lượng dùng chung. Điều này sẽ dẫn tới hiện tượng “tranh đua khai thác” và “dồn vốn đầu tư” vào tàu thuyển tốt hơn và nhiều ngư cụ khai thác hơn. Hậu quả, mùa vụ khai thác sẽ bị rút ngắn lại, sản phẩm kém chat lượng, thu hoạch vượt mức, chỉ phí tăng và gây tác hại về kinh tế xã hội Với cơ chế tiếp cận hạn chế, chỉ một số lượng cá nhân nhất định có.
quyền hợp pháp đề khai thác nguồn lợi, hưởng lợi ích mà không làm tồn hại hay phá hủy nó, là biện pháp cơ bản để hướng tới khai thác bền vững. NOI DUNG PHAT TRIEN KHAI THAC THUY SAN Phát triển kinh tế là một trong những quan tâm hàng đầu của các quốc gia nhằm cải thiện mức sống của dân cư và gia tăng sản xuất. Phát triển kinh tế luôn gắn liền với tăng trưởng nhưng tăng trưởng chỉ là một khía cạnh, trong. điều kiện nguồn lực có hạn, các tác động đối với xã hội và môi trường càng lớn, xã hội bắt đầu nghĩ tới việc phát triển bền vững.
Các quan điểm phát triển: trường phái cơ cấu, trường phái phát triển qua nhiều giai đoạn, trường phái của các nhà tân cổ điền, trường phái phát triển bền vững. Trường phái cơ cấu chủ trương muốn phát triển kinh tế thì phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của khu vực sơ khai và tăng dan tỷ trọng của khu vực chế tạo và khu vực dịch vụ. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, công nghệ là thiết yếu. Trong quan hệ kinh tế, các nước đang.
phát triển cung cấp nguyên liệu thô, các nước phát triển cung cấp hàng hoá chế tạo. Vì vậy, các nước đang phát triển muốn phát triển nền công nghiệp. trong nước phải dựa vào nhu cầu trong nước. Kết quả của lý thuyết này đã 11 cho ra đời chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển từ thập niên 1950.
Mô hình tăng trưởng tuyến tính nhiều giai đoạn cho rằng các nước đang phát triển có thê đây mạnh phát triển kinh tế nếu họ nhận được nhiều vốn và được Nhà nước can thiệp hợp lý. Trường phái này cho rằng để trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, cần phải trải qua năm giai đoạn: (1) xã hội truyền thống (2) chuẩn bị các tiền đề để cất cánh; (3) cắt cánh; (4) trưởng thành; và (5) chuyển sang xã hội tiêu dùng quy mô lớn. Các nước đang phát triển ở vào các giai đoạn thứ nhất và thứ hai. Trường phái Tân cổ điển, vào thập niên 1980, chủ trương rằng muốn phát triển kinh tế các nước đang phát triển phải dựa vào thị trường chứ không phải dựa vào sự can thiệp của Nhà nước.
Nói cách khác, họ đề cao phát triển kinh tế thân thiện với thị trường với các biện pháp cần thực hiện là xoá bỏ những hạn chế thị trường, tư nhân hóa, tự do hóa thương mại, giảm đầu tư công cộng như một cách để giảm sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, tự do hoá thương mại và tự do hóa tài khoản vốn, v. Nam 2002, tại cuộc họp Thượng đinh thế giới về vấn để phát triển bền vững (còn gọi là Hội nghị Rio +10 hay Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg) nhóm họp tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi cam kết phát triển bền vững được tái khẳng định với hơn 20.000 đại biểu chính thức của gần 200 nước. Trong giai đoạn quá độ này, phát triển bền vững như một khái niệm, một mục tiêu và một phong trào lan rộng nhanh chóng và giờ đây là trọng tâm trong sứ mệnh của vô số các tổ chức quốc tế, các viên nghiên cứu quốc gia, các tập đoàn kinh tế, các “thành phố bền vững” và các địa phương. Phát triển bền vững hiện nay dang là vấn dé toàn cẩu, được rất nhiều nhà nghiên cứu, các nhà chính trị và cả xã hội quan tâm.