Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHÈ 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÀO TẠO NGHÈ 1. Một số khái nigm = Diota ä một hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và hiệu qủa cao. Thông thường sau khi đảo tạo người lao động được cấp bằng.
- Ngh một dạng cụ thể hoàn chỉnh các hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao động xã hội đòi hỏi phải được tiến hành theo một nguyên tắc được thực hiện riêng, với công nghệ và loại công cụ riêng, là tổng hợp trình độ hiểu biết, kỹ năng trong lao động mà người lao động cần phải tiếp thu được trong qúa trình đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng các yêu cầu của một dạng cụ thể hoàn chỉnh của hoạt động lao động. - Phân biệt nghề với chuyên môn: chuyên môn là sự chia nhỏ của nghề, một nghề có thể có nhiều chuyên môn. - Đào tạo nghề: là quá trình truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực. hành cho người học nghề để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của thị trường lao động.
Dao tao nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: + Dạy nghề: là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. [10] + Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”. ~ Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao.
động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đảo tạo lại nghề. + Đảo tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuôi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao. động nhưng trước đó chưa được học nghề. Đảo tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội.
+ Đào tạo nghề bổ sung: Giúp cho học viên nâng cao hoặc mở rộng trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục của công việc đang hoặc sẽ làm. Đào tạo bổ sung có thể xem là một quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên đề và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. + Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Một số công nhân được đảo tạo lại cho.
phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới. Đào tạo lại thường được. hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới đề thay đổi nghề. - Trình độ đào tạo nghề là các chuẩn mực kỹ thuật hoặc nghiệp vụ theo các mức độ khác nhau, được qui định theo các căn cứ khoa học, thống nhất bao gor + Bán lành nghề: được trang bị một số kiến thức và kỹ năng năng nghề nhất định.
+ Lành nghề: được trang bị kỹ năng nghề diện rộng hoặc sâu, có kha nang đảm nhận những công việc phức tạp + Trình độ cao: được trang bị kỹ năng nghề thành thạo và kiến thức chuyên môn kỹ thuật cần thiết, có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại và xử lý các tình huống phức tạp, đa dạng trong dây chuyển sản xuất tự động, công nghệ hiện đại. ~ Nghề được đảo tạo: là nghề yêu cầu một trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Trình độ này có được nhờ qúa trình đảo tạo dài hạn hoặc ngắn hạn, nhằm tạo ra sản phẩm để trao đôi trên thị trường và con người gắn bó lâu dài với hoạt động đó như lẽ sống của mình. - Nghề không được đào tạo: là nghề được hình thành tự phát, do nhu cầu xã hội, do tích luỹ kinh nghiệm hay do truyền từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác mà có.
~ Lao động qua đào tạo: là người đã trải qua một quá trình học tập đảo tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề ở các trường, lớp. học nghề, cơ sở sản xuất - dịch vụ. Sau quá trình đó, người học phải đạt tiêu chuẩn về kiến thức cơ bản hoặc kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. ~ Lao động qua đào tạo nghề: là người đã qua đào tạo ở các trường, lớp dạy nghề hoặc tại nơi làm việc và sau quá trình đó được cấp bằng, chứng chỉ nghề, hoặc được xếp lương theo ngạch bậc công việc, hoặc thực hiện được một công đoạn cụ thể trong quá trình sản xuất.
[21] ~ Liên thông trong đảo tạo: là sự thống nhất, công nhận lẫn nhau của các cơ sở đào tạo về chuẩn kiến thức, chương trình của một hệ thống đào tạo. - Hệ thống dạy nghề: là tập hợp các trường, lớp, trung tâm, cơ sở dạy nghề công lập, bán công, dân lập, tư thục, thuộc các doanh nghiệp. có đăng ký hoặc được cấp có thâm quyền cho phép dạy nghề theo qui định của pháp luật, chịu sự quản lý nhà nước về chương trình, nội dung, chất lượng đảo tạo và được cấp chứng. chỉ, bằng nghề cho học viên tốt nghiệp - Hệ thống cơ sở đào tạo nghề: là một tập hợp các cơ sở đào tạo nghề trên phạm vi cả nước, bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các lớp.
dạy nghề, được nhà nước thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương. Đảo tạo nghề là hệ thống chính trong việc cung cấp nguồn nhân lực có kỹ thuật cho sự nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Phân loại đào tạo nghề Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỷ theo mỗi loại tiêu thức ta có thé phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau: - Căn cứ vào thời gian đảo tạo nghề: gồm đảo tạo ngắn hạn và đảo tạo dài hạn + Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ. đắc lực của các co quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viê + Đào tao đài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm. trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỳ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đảo tạo ngắn hạn.
- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học: gồm có đảo tạo mới, đảo tạo lại và đảo tạo nâng cao. + Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề). + Đào rạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa đòi hỏi phải chuyên sang nghề khác, chuyên môn khác. + Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức.
Vai trò của đào tạo nghề 1. Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động Lao động của con người là một trong ba yếu tố đầu vào của sản xuất, hơn thế nữa lại là nhân tố thực hiện kết hợp các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì kéo theo nhu cầu về lao động cũng sẽ thay đổi để phủ hợp với sản xuất. Tức là thúc đây quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động.
Vậy trước khi có sự chuyển dịch này thì đã có sự dư thừa lao động ở các ngành, vùng, thành phần inh tế khác và số lao động dư thừa này sẽ phải trải qua một quá trình đảo tạo lại để phủ hợp với ngành, vùng thành phần kinh tế khác. Và như vậy công tác đảo tạo nghề phải nhanh chóng kịp thời để vừa đảm bảo sản xuất vừa đảm bảo cuộc sống cho người lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tô chức lại lao động theo hướng hiện đại hơn, tiên tiến hơn để tận dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội. Vì vậy, người lao động phải luôn học hỏi kiến thức kỹ năng mới, từ đó đòi hỏi công tác đào tạo nghề luôn phải bám sát, đón trước xu hướng vận động của nền kinh tế.
Khi có sự dịch chuyển cơ cấu lao động sang ngành mới áp dụng những kiến thức khoa học cần có những lao động tay nghề cao điều này buộc phải mời những. trường dạy nghề công nghệ cao thì mới có lao động đề phục vụ sản xuất Như vậy, đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ mật thiết hợp tác và bô sung cho nhau. Đào tạo nghề vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Còn chuyển dịch cơ cấu lao động lại quyết định trở lại về qui mô, cơ cấu, và chất lượng cho đảo tạo nghề.
Tuy nhiên chuyển địch cơ cấu lao động cũng tác động đến công tác đào tạo nghề, sự chuyên dịch cơ cấu lao động nhanh và sâu sẽ tạo ra một mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp và ngày càng có chất lượng. Đến năm 2010 nước ta đã có 1.130 trường tăng 240 trường so với năm 2005, qui mô đào tạo tăng từ 987.950 người năm 2005 lên 1.