Luận văn: Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề tại tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010-2020

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh quảng ngãi giai đoạn 2010 2020, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

161
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan công tác đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi 2010 2020

Giai đoạn 2010-2020 đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Quảng Ngãi, với mục tiêu trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong bối cảnh đó, công tác đào tạo nghề được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, là đòn bẩy để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực có tay nghề là yếu tố quyết định để thu hút đầu tư, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc biệt, sự hình thành và phát triển của Khu kinh tế Dung Quất đã tạo ra nhu cầu rất lớn về lao động kỹ thuật, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hồng Đào (2011) đã cung cấp một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về thực trạng, thách thức và giải pháp cho vấn đề này. Dựa trên nền tảng nghiên cứu đó, bài viết này sẽ phân tích các khía cạnh cốt lõi nhằm tối ưu hóa hệ thống đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của địa phương. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc giải quyết việc làm mà còn hướng đến việc xây dựng một đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với công nghệ mới và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh nhà.

1.1. Tầm quan trọng của đào tạo nghề với kinh tế Quảng Ngãi

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn là yếu tố nội sinh quan trọng nhất. Đối với một tỉnh có nguồn tài nguyên không quá dồi dào như Quảng Ngãi, đầu tư vào con người chính là giải pháp cơ bản để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Công tác đào tạo nghề giữ vai trò trực tiếp cung cấp lực lượng lao động sản xuất cho các ngành kinh tế, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển mạnh mẽ của Khu kinh tế Dung Quất với các ngành công nghiệp nặng như lọc hóa dầu, luyện cán thép đã và đang đặt ra nhu cầu khổng lồ về lao động có trình độ tay nghề cao. Do đó, việc đẩy mạnh đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi không chỉ là một nhiệm vụ giáo dục mà còn mang ý nghĩa kinh tế sâu sắc. Một hệ thống đào tạo nghề hiệu quả sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân và đảm bảo an sinh xã hội.

1.2. Mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực qua đào tạo

Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra những mục tiêu cụ thể cho công tác đào tạo nghề trong giai đoạn 2010-2020. Mục tiêu tổng quát là xây dựng đội ngũ lao động kỹ thuật đáp ứng thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể, tỉnh đặt mục tiêu "Phấn đấu đến năm 2010 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30%, trong đó lao động qua đào tạo nghề là 26%". Quy mô tuyển sinh đào tạo cũng được đặt ra ở mức 18.000 học sinh/năm. Các chương trình đào tạo phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và định hướng phát triển của tỉnh. Việc đào tạo phải đảm bảo người lao động sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

II. Top 3 thách thức lớn trong đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, công tác đào tạo nghề tại Quảng Ngãi trong giai đoạn 2010-2020 vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức nghiêm trọng. Những rào cản này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà còn tạo ra sự lãng phí nguồn lực xã hội, làm chậm quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. Thách thức lớn nhất là sự mất cân đối giữa chương trình đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Các doanh nghiệp, đặc biệt tại Khu kinh tế Dung Quất, thường xuyên phải đào tạo lại lao động mới tuyển dụng. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dạy nghề còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên. Máy móc, thiết bị thực hành tại nhiều trường còn lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của công nghệ sản xuất. Cuối cùng, nhận thức của một bộ phận xã hội về học nghề và các cơ chế, chính sách hỗ trợ chưa thực sự đồng bộ đã tạo ra những điểm nghẽn, cản trở sự phát triển toàn diện của hệ thống đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi. Việc nhận diện và phân tích sâu sắc các thách thức này là bước đi tiên quyết để tìm ra giải pháp khắc phục hiệu quả.

2.1. Mất cân đối cung cầu trên thị trường lao động

Sự chênh lệch giữa kỹ năng được đào tạo và yêu cầu công việc là vấn đề nhức nhối nhất. Nhiều cơ sở dạy nghề vẫn đào tạo theo những gì mình có thay vì những gì thị trường lao động cần. Điều này dẫn đến nghịch lý "thừa thầy, thiếu thợ" cục bộ. Một số ngành nghề có số lượng học viên tốt nghiệp lớn nhưng tỷ lệ có việc làm đúng chuyên ngành lại thấp. Trong khi đó, các ngành kỹ thuật cao, tự động hóa, cơ khí chính xác phục vụ cho các dự án công nghiệp lớn lại thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng. Luận văn chỉ ra rằng "cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa thực sự phù hợp với yêu cầu thị trường lao động". Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuyển dụng mà còn làm giảm cơ hội giải quyết việc làm cho chính người lao động, gây lãng phí lớn cho xã hội.

2.2. Hạn chế về chất lượng và cơ sở vật chất dạy nghề

Chất lượng đầu ra của học viên phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dạy và học. Tại Quảng Ngãi, nhiều cơ sở dạy nghề có quy mô nhỏ lẻ, trang thiết bị "lạc hậu, không đồng bộ". Thời lượng thực hành trong chương trình đào tạo chưa được đảm bảo. Theo quy định, thời gian thực hành phải chiếm 60-70%, nhưng thực tế chỉ đạt 50-57%. Việc thiếu thốn trang thiết bị hiện đại khiến học viên sau khi ra trường bỡ ngỡ khi tiếp xúc với máy móc thực tế tại nhà máy. Điều này trực tiếp làm giảm sút chất lượng đào tạo và khả năng cạnh tranh của người lao động. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí và thời gian để đào tạo lại, một thực tế được phản ánh rõ trong các khảo sát đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng công việc của người lao động.

2.3. Năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý còn yếu

Giáo viên là nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên dạy nghề tại tỉnh còn nhiều bất cập, thiếu cả về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là giáo viên thực hành có kinh nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp. Nhiều giáo viên nặng về lý thuyết nhưng thiếu kỹ năng thực hành và cập nhật công nghệ mới. Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tại các cơ sở dạy nghề cũng là một yếu tố cần quan tâm. Khả năng tổ chức, quản lý, điều phối và đặc biệt là xây dựng mối liên kết với doanh nghiệp để tìm kiếm cơ hội hợp tác, cập nhật nhu cầu thị trường lao động còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng hoạch định chiến lược và sự linh hoạt của các trường nghề trong bối cảnh kinh tế luôn biến động.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề toàn diện

Để vượt qua các thách thức, việc cải thiện chất lượng đào tạo phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Đây là một quá trình đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, tác động trực tiếp vào cốt lõi của công tác đào tạo nghề. Trọng tâm của các giải pháp này là đổi mới căn bản chương trình và phương pháp giảng dạy, chuyển từ định hướng trang bị kiến thức sang phát triển năng lực thực hành cho người học. Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng mở, linh hoạt và bám sát yêu cầu của doanh nghiệp. Song song đó, việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết. Không thể đào tạo ra những người thợ lành nghề nếu thiếu các trang thiết bị, máy móc hiện đại để thực hành. Các cơ sở dạy nghề cần được trang bị các xưởng thực hành, phòng thí nghiệm mô phỏng môi trường làm việc thực tế. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ giúp đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi tạo ra một nguồn nhân lực không chỉ vững về lý thuyết mà còn thành thạo về kỹ năng, sẵn sàng đáp ứng ngay yêu cầu của thị trường lao động.

3.1. Đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy thực tiễn

Chương trình đào tạo cần được xây dựng dựa trên sự phân tích nhu cầu của thị trường lao động và có sự tham gia của các doanh nghiệp. Kinh nghiệm từ các nước phát triển như Đức và Pháp cho thấy, giáo trình phải được cập nhật thường xuyên (3-5 năm một lần) để bắt kịp sự thay đổi của công nghệ. Phương pháp giảng dạy cần tăng cường thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Thay vì giảng dạy một chiều, cần áp dụng các phương pháp học tập tích cực như học theo dự án, giải quyết vấn đề thực tế. Điều này giúp học viên không chỉ nắm vững kỹ năng nghề mà còn rèn luyện được các kỹ năng mềm quan trọng như làm việc nhóm, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng. Việc đổi mới này sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa nhà trường và thực tế sản xuất, nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững.

3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại

Đầu tư vào cơ sở vật chất là yếu tố mang tính nền tảng. Luận văn nhấn mạnh, "cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của đào tạo". Nguồn vốn đầu tư cần được đa dạng hóa, không chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước mà cần huy động từ xã hội hóa, từ chính các doanh nghiệp – đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các ngành nghề mũi nhọn mà tỉnh đang có nhu cầu lớn. Các cơ sở dạy nghề cần được trang bị máy móc, công nghệ tương đương hoặc đi trước một bước so với thực tế sản xuất. Chỉ khi đó, học viên mới có thể làm chủ công nghệ ngay sau khi tốt nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc cách mạng công nghiệp.

IV. Bí quyết liên kết doanh nghiệp trong đào tạo nghề Quảng Ngãi

Sự thành công của công tác đào tạo nghề không thể chỉ đến từ nỗ lực của riêng ngành giáo dục. Một mối liên kết chặt chẽ và thực chất giữa ba bên: Nhà trường – Doanh nghiệp – Nhà nước là chìa khóa để tạo ra sự đột phá. Mô hình này đảm bảo rằng hoạt động đào tạo luôn gắn liền với thực tiễn sản xuất và định hướng phát triển của địa phương. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm đào tạo mà còn phải là một chủ thể tích cực tham gia vào toàn bộ quá trình, từ xây dựng chương trình, giảng dạy, hướng dẫn thực tập đến đánh giá chất lượng học viên. Về phía Nhà nước, vai trò kiến tạo môi trường, ban hành các chính sách đào tạo nghề khuyến khích sự hợp tác này là vô cùng quan trọng. Đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân và hợp tác quốc tế sẽ giúp hệ thống đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi phát triển năng động, hiệu quả và bền vững, thực sự trở thành bệ phóng cho nguồn nhân lực địa phương.

4.1. Xây dựng mô hình hợp tác Nhà trường Doanh nghiệp hiệu quả

Mô hình hợp tác này phải được xây dựng trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Các cơ sở dạy nghề cần chủ động tìm đến doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu, mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy và xây dựng các chương trình thực tập chất lượng. Ngược lại, doanh nghiệp cần xem việc hợp tác với nhà trường là một khoản đầu tư chiến lược cho nguồn nhân lực tương lai. Các hình thức hợp tác có thể đa dạng, từ việc đặt hàng đào tạo theo yêu cầu, tài trợ học bổng, cung cấp trang thiết bị, cho đến việc thành lập các hội đồng tư vấn nghề nghiệp tại trường. Một cơ chế phối hợp rõ ràng và thường xuyên sẽ đảm bảo chương trình đào tạo luôn phù hợp với thực tế, giúp sinh viên ra trường có thể làm việc ngay mà không cần đào tạo lại.

4.2. Đẩy mạnh xã hội hóa và hoàn thiện chính sách đào tạo nghề

Xã hội hóa là chủ trương đúng đắn nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục nghề nghiệp. Nhà nước cần có những chính sách đào tạo nghề đột phá để khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, đầu tư vào lĩnh vực này. Các chính sách có thể bao gồm ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng cho các cơ sở đào tạo ngoài công lập hoặc cho các doanh nghiệp có tham gia đào tạo. Đồng thời, cần "Hoàn thiện cơ chế chính sách về đào tạo nghề" và "Tăng cường quản lý Nhà nước về đào tạo nghề" để tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch, công bằng và thuận lợi. Việc này sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các cơ sở dạy nghề không ngừng nâng cao chất lượng để tồn tại và phát triển.

V. Phân tích kết quả đào tạo nghề Quảng Ngãi giai đoạn 2010 2020

Nhìn lại giai đoạn 2010-2020, công tác đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về mặt số lượng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh. Quy mô tuyển sinh hàng năm tăng lên, mạng lưới cơ sở dạy nghề được mở rộng. Những kết quả này đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động và đáp ứng một phần nhu cầu nhân lực cho các khu công nghiệp. Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn về chất lượng và hiệu quả, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục. Tỷ lệ học viên tốt nghiệp làm đúng ngành nghề đào tạo chưa cao, cho thấy sự lãng phí trong đầu tư. Đáng chú ý, đánh giá từ phía doanh nghiệp cho thấy mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của lao động qua đào tạo chỉ ở mức trung bình. Các kỹ năng thực hành và kỹ năng mềm vẫn là điểm yếu cố hữu. Những con số này là bằng chứng khách quan, phản ánh cả thành công và hạn chế của công tác đào tạo nghề trong giai đoạn vừa qua.

5.1. Đánh giá số lượng và cơ cấu lao động qua đào tạo nghề

Về mặt số lượng, Quảng Ngãi đã hoàn thành mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2006-2010, toàn tỉnh đã đào tạo được 64.695 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 28% vào năm 2010, đạt mục tiêu. Quy mô tuyển sinh năm 2010 đạt 19.010 học sinh, vượt chỉ tiêu. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo còn bất cập. Tỷ lệ đào tạo nghề dài hạn (trung cấp, cao đẳng nghề) chỉ chiếm 38,9%, chưa đạt mục tiêu 40%. Điều này cho thấy công tác đào tạo vẫn nặng về các khóa ngắn hạn, sơ cấp nghề, chưa đáp ứng đủ nhu cầu về công nhân kỹ thuật bậc cao. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã diễn ra, nhưng chất lượng của nguồn nhân lực chuyển dịch vẫn là một dấu hỏi lớn.

5.2. Tỷ lệ việc làm và mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp

Theo một khảo sát năm 2010, tỷ lệ học viên có việc làm đúng ngành nghề được đào tạo là 70,28%. Con số này là một tín hiệu khả quan, cho thấy việc đào tạo đã có sự gắn kết nhất định với thực tế. Tuy nhiên, gần 30% còn lại làm trái ngành là một sự lãng phí không nhỏ. Quan trọng hơn, khi khảo sát các doanh nghiệp, điểm trung bình họ đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của người lao động chỉ dao động từ 3,04 đến 3,28 trên thang điểm 5. Các tiêu chí bị đánh giá thấp nhất là "Kỹ năng thực hành" (3,05 điểm) và "Khả năng phối hợp, làm việc nhóm" (3,04 điểm). Điều này khẳng định khoảng cách về chất lượng đào tạo giữa nhà trường và yêu cầu của nhà tuyển dụng vẫn còn rất lớn.

VI. Hướng đi tương lai cho công tác đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi

Trên cơ sở phân tích thực trạng và những bài học kinh nghiệm, định hướng phát triển công tác đào tạo nghề tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn tiếp theo cần có sự thay đổi mang tính chiến lược. Trọng tâm phải chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo và sự phù hợp với thị trường lao động làm thước đo cao nhất. Cần xây dựng một quy hoạch tổng thể mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tập trung đầu tư cho các trường, các ngành nghề trọng điểm. Đồng thời, việc hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách là nhiệm vụ cấp bách để tạo ra một môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi thành phần xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt và hiệu quả, có khả năng cung cấp đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật, phục vụ đắc lực cho mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa và phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.

6.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao sau 2020

Định hướng chiến lược trong tương lai phải tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh và hội nhập. Thay vì đào tạo dàn trải, tỉnh cần xác định các ngành, nghề mũi nhọn gắn với lợi thế của địa phương như công nghiệp lọc hóa dầu, cơ khí chế tạo, dịch vụ logistics, và nông nghiệp công nghệ cao. Công tác dự báo nhu cầu thị trường lao động phải được thực hiện một cách khoa học và thường xuyên để làm cơ sở cho việc điều chỉnh ngành nghề và quy mô đào tạo. Cần chú trọng đào tạo không chỉ kỹ năng cứng mà cả kỹ năng mềm, ngoại ngữ và tin học, giúp người lao động có thể thích ứng linh hoạt với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và môi trường làm việc toàn cầu.

6.2. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách và quản lý nhà nước

Để thực hiện được các định hướng trên, vai trò quản lý và kiến tạo của Nhà nước là cực kỳ quan trọng. Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đào tạo nghề, đặc biệt là các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo. Cần xây dựng một hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo độc lập, khách quan để đảm bảo chất lượng đầu ra của các cơ sở dạy nghề. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước, từ việc quy hoạch mạng lưới, phân bổ ngân sách đầu tư cho đến việc giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động. Một cơ chế quản lý hiệu quả sẽ là nền tảng vững chắc để công tác đào tạo nghề của tỉnh phát triển đúng hướng và đạt được các mục tiêu chiến lược đã đề ra.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế đẩy mạnh công tác đào tạo nghề của tỉnh quảng ngãi giai đoạn 2010 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHÈ 1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÀO TẠO NGHÈ 1. Một số khái nigm = Diota ä một hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và hiệu qủa cao. Thông thường sau khi đảo tạo người lao động được cấp bằng.

- Ngh một dạng cụ thể hoàn chỉnh các hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao động xã hội đòi hỏi phải được tiến hành theo một nguyên tắc được thực hiện riêng, với công nghệ và loại công cụ riêng, là tổng hợp trình độ hiểu biết, kỹ năng trong lao động mà người lao động cần phải tiếp thu được trong qúa trình đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn để đáp ứng các yêu cầu của một dạng cụ thể hoàn chỉnh của hoạt động lao động. - Phân biệt nghề với chuyên môn: chuyên môn là sự chia nhỏ của nghề, một nghề có thể có nhiều chuyên môn. - Đào tạo nghề: là quá trình truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực. hành cho người học nghề để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề, đáp ứng yêu cầu làm việc của thị trường lao động.

Dao tao nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: + Dạy nghề: là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. [10] + Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”. ~ Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao.

động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đảo tạo lại nghề. + Đảo tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuôi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao. động nhưng trước đó chưa được học nghề. Đảo tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội.

+ Đào tạo nghề bổ sung: Giúp cho học viên nâng cao hoặc mở rộng trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục của công việc đang hoặc sẽ làm. Đào tạo bổ sung có thể xem là một quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên đề và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. + Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Một số công nhân được đảo tạo lại cho.

phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới. Đào tạo lại thường được. hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới đề thay đổi nghề. - Trình độ đào tạo nghề là các chuẩn mực kỹ thuật hoặc nghiệp vụ theo các mức độ khác nhau, được qui định theo các căn cứ khoa học, thống nhất bao gor + Bán lành nghề: được trang bị một số kiến thức và kỹ năng năng nghề nhất định.

+ Lành nghề: được trang bị kỹ năng nghề diện rộng hoặc sâu, có kha nang đảm nhận những công việc phức tạp + Trình độ cao: được trang bị kỹ năng nghề thành thạo và kiến thức chuyên môn kỹ thuật cần thiết, có khả năng vận hành các thiết bị hiện đại và xử lý các tình huống phức tạp, đa dạng trong dây chuyển sản xuất tự động, công nghệ hiện đại. ~ Nghề được đảo tạo: là nghề yêu cầu một trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Trình độ này có được nhờ qúa trình đảo tạo dài hạn hoặc ngắn hạn, nhằm tạo ra sản phẩm để trao đôi trên thị trường và con người gắn bó lâu dài với hoạt động đó như lẽ sống của mình. - Nghề không được đào tạo: là nghề được hình thành tự phát, do nhu cầu xã hội, do tích luỹ kinh nghiệm hay do truyền từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác mà có.

~ Lao động qua đào tạo: là người đã trải qua một quá trình học tập đảo tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề ở các trường, lớp. học nghề, cơ sở sản xuất - dịch vụ. Sau quá trình đó, người học phải đạt tiêu chuẩn về kiến thức cơ bản hoặc kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. ~ Lao động qua đào tạo nghề: là người đã qua đào tạo ở các trường, lớp dạy nghề hoặc tại nơi làm việc và sau quá trình đó được cấp bằng, chứng chỉ nghề, hoặc được xếp lương theo ngạch bậc công việc, hoặc thực hiện được một công đoạn cụ thể trong quá trình sản xuất.

[21] ~ Liên thông trong đảo tạo: là sự thống nhất, công nhận lẫn nhau của các cơ sở đào tạo về chuẩn kiến thức, chương trình của một hệ thống đào tạo. - Hệ thống dạy nghề: là tập hợp các trường, lớp, trung tâm, cơ sở dạy nghề công lập, bán công, dân lập, tư thục, thuộc các doanh nghiệp. có đăng ký hoặc được cấp có thâm quyền cho phép dạy nghề theo qui định của pháp luật, chịu sự quản lý nhà nước về chương trình, nội dung, chất lượng đảo tạo và được cấp chứng. chỉ, bằng nghề cho học viên tốt nghiệp - Hệ thống cơ sở đào tạo nghề: là một tập hợp các cơ sở đào tạo nghề trên phạm vi cả nước, bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các lớp.

dạy nghề, được nhà nước thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương. Đảo tạo nghề là hệ thống chính trong việc cung cấp nguồn nhân lực có kỹ thuật cho sự nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Phân loại đào tạo nghề Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỷ theo mỗi loại tiêu thức ta có thé phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau. Trong phạm vi bài này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau: - Căn cứ vào thời gian đảo tạo nghề: gồm đảo tạo ngắn hạn và đảo tạo dài hạn + Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.

Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ. đắc lực của các co quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viê + Đào tao đài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm. trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỳ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đảo tạo ngắn hạn.

- Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học: gồm có đảo tạo mới, đảo tạo lại và đảo tạo nâng cao. + Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có nghề). + Đào rạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa đòi hỏi phải chuyên sang nghề khác, chuyên môn khác. + Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việc phức.

Vai trò của đào tạo nghề 1. Đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động Lao động của con người là một trong ba yếu tố đầu vào của sản xuất, hơn thế nữa lại là nhân tố thực hiện kết hợp các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì kéo theo nhu cầu về lao động cũng sẽ thay đổi để phủ hợp với sản xuất. Tức là thúc đây quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động.

Vậy trước khi có sự chuyển dịch này thì đã có sự dư thừa lao động ở các ngành, vùng, thành phần inh tế khác và số lao động dư thừa này sẽ phải trải qua một quá trình đảo tạo lại để phủ hợp với ngành, vùng thành phần kinh tế khác. Và như vậy công tác đảo tạo nghề phải nhanh chóng kịp thời để vừa đảm bảo sản xuất vừa đảm bảo cuộc sống cho người lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tô chức lại lao động theo hướng hiện đại hơn, tiên tiến hơn để tận dụng tối đa và có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội. Vì vậy, người lao động phải luôn học hỏi kiến thức kỹ năng mới, từ đó đòi hỏi công tác đào tạo nghề luôn phải bám sát, đón trước xu hướng vận động của nền kinh tế.

Khi có sự dịch chuyển cơ cấu lao động sang ngành mới áp dụng những kiến thức khoa học cần có những lao động tay nghề cao điều này buộc phải mời những. trường dạy nghề công nghệ cao thì mới có lao động đề phục vụ sản xuất Như vậy, đào tạo nghề với chuyển dịch cơ cấu lao động có mối quan hệ mật thiết hợp tác và bô sung cho nhau. Đào tạo nghề vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Còn chuyển dịch cơ cấu lao động lại quyết định trở lại về qui mô, cơ cấu, và chất lượng cho đảo tạo nghề.

Tuy nhiên chuyển địch cơ cấu lao động cũng tác động đến công tác đào tạo nghề, sự chuyên dịch cơ cấu lao động nhanh và sâu sẽ tạo ra một mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp và ngày càng có chất lượng. Đến năm 2010 nước ta đã có 1.130 trường tăng 240 trường so với năm 2005, qui mô đào tạo tăng từ 987.950 người năm 2005 lên 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ