Chương I: Một số vấn dé lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dich co cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tinh Nam Định theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chương III: Phương hướng và giải pháp chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiện Nam Định theo hướng công nghiệp hoá, hiện dat hoá. Chuyển dịch CCKTNN là một vấn đề rộng lớn, chứa đựng những nội dung phức tap; vì điều kiện học tập và nghiên cứu có hạn nên luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành kinh tế chính trị của tác giả không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định.
Kính mong được sự đong góp ý kiến của Hội đồng khoa học và các bạn đồng nghiệp. Tác giả xin chân thành cảm ơn. CHUONG I MOT SO VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CNH, HĐH 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và đặc trưng cơ bản của nó.
Khái niêm cơ cầu kinh tế: Mọi sự vật và hiện tượng đều tồn tại với tư cách là một hệ thống được cấu thành bởi các yếu tố, các bộ phận, với những mối quan hệ và vị trí xác định giữa chúng. "Cơ cấu" là khái niệm được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống.
Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống. Trong các tài liệu kinh tế, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm cơ cấu kinh tế. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế của nên kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của nền kinh tếquốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu vé số lượng và chất lượng tương đối ổn định của lực lượng sẵn xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định. Nền kinh tế quốc dân dưới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cấu trúc khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Những loại cơ cấu kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế quốc dân bao gồm cơ cấu ngành, lĩnh vực, cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu ngành kinh tế, là tổ hợp các ngành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động chung của nên kinh tế và trình độ phát triển của nền sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.
Khi phân tích cơ cấu ngành của mot quốc gia người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành lớn như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Trong mỗi ngành lớn lại hình thành ngành nhỏ hơn thường gọi là các ngành kính tế - kỹ thuật. Trong nhóm ngành công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng. Trong nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Trong nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thương mại, du lịch, ngân hàng, bưu điện. Ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp lại có: trồng trọt, chăn nuôi. Trong trồng trọt có cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây thực phẩm. tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Xu hướng vận động của cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trên hai phương diện chủ yếu là giá trị sản lượng và lực lượng lao động xã hội. Kinh nghiệm thế giới cho thấy muốn chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: "chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (ly trọng ngành nông nghiệp chiếm 40-60%; công nghiệp từ 10-20%, dịch vụ từ 10 - 30%) sang nền kinh tế công, nôngnghiệp (ty trọng ngành nông nghiệp từ 15 - 25%, công nghiệp 25-35%, dich vụ 40- 50%) để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển (tý trọng ngành nông nghiệp dưới 10%, công nghiệp 35-40%, dịch vụ 50-60%)” [34, L3]. Cơ cấu kinh tế vùng: Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế vùng thể hiện sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng. Trên cơ sở đó hình thành các vùng kinh tế theo hướng sản xuất chuyên môn hoá, đa đạng hoá nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng mang lại kết quả và giá trị kinh tế cao nhất.
10 Xu hướng vận động của cơ cấu kinh tế vùng là phát triển theo hướng Liên kết giữa các vùng làm cho mỗi vùng đều có cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều kiện cho các vùng cùng phát triển, hạn chế mức thấp nhất chênh lệch giữa các vùng. Cơ cấu các thành phần kinh tế: Nếu như phân công lao động xã hội đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu vùng thì chế độ sở hữu lai là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế cơ bản là: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân, và kinh tế cá thể, tiểu chủ. Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đấy phân công lao động xã hội.
Theo nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Xu hướng vận động của các thành phần kinh tế là phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước để từ đó chủ động, đổi mới, tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, để doanh nghiệp nhà nước thực sự đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế quốc dân. Tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý, về vật chất để các chủ doanh nghiệp tư nhân yên tâm đầu tư, mở rộng các hình thức sản xuất và cùng phát triển.
Ba bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu thành phần kinh tế có quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian vùng lãnh thổ và phạm vi cả nước. Mặt khác, việc phân bố không gian vùng kinh tế một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên các vùng lãnh thổ.
Đặc trưng của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế được đặc trưng bởi một số tính chất chủ yếu sau: * Cơ cấu kinh tế mang tinh khách quan: 11 Cơ cấu kinh tế được hình thành trên cơ sở quy định về sự hình thành, van động và phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Bởi vậy, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đến đâu thì có một cơ cấu kinh tế tương ứng đến đó. Cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan, do vậy một cơ cấu kinh tế hợp lý của một nền kinh tế quốc dân phản ánh được sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan.
Vai trò của yếu tố chủ quan thông qua nhận thức yếu tố khách quan mà phân tích, đánh giá những xu thế phát triển khác nhau để tìm ra phương án thay đổi cơ cấu kinh tế có hiệu quả nhất, đặc trưng cho một nước có điều kiện cụ thể nhất định. Yếu tố chủ quan còn tác động đối với cơ cấu kinh tế như phân bố tỷ lệ lao động trong các ngành, các lĩnh vực; thực hiện những kế hoạch dam bảo những ty lệ cân đối v.Mac viết: “Trong sự phân công lao động xã hội thì con số tỷ lệ là một sự tất yếu không thể tránh khỏi, một tất yếu thầm kín yên lặng” [27, 65]. Cơ cấu kinh tế tuy có sự tác động yếu tố chủ quan nhưng không vì thế mà làm mất yếu tố khách quan, vì như thế thì không thể thực hiện được một cơ cấu kinh tế hợp lý có hiệu quả. * Cơ cấu kinh tế mang tính chất lịch sử xã hội: Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì cơ cấu kinh tế khác nhau, nó phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, tương ứng với quan hệ sản xuất nhất định.
Nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu thì cơ cấu kinh tế chủ yếu được phản ánh thông qua các mối quan hệ giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Khi lực lượng sản xuất đã phát triển, sự phân công lao động sâu rộng hơn thì cơ cấu kinh tế được biểu hiện phức tạp và đa dạng hơn. Lúc này giữa các bộ phận của quá trình tái sản xuất xã hội xác lập được những quan hệ cân đối trong sự phân công lao động xã hội. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ở trong cùng một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội thì các nước đều có cùng một hình thức cơ cấu kinh tế và nội dung cơ cấu kinh tế như nhau.
Bởi cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội cụ thể mà nó có những hình thức. 12 nội dung thích ứng với điều kiện đó. Cho nên, khi xây dựng cơ cấu kinh tế cần phải vừa tuân thủ yếu tố khách quan đồng thời phải chú ý tới điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử của mỗi nước, môi vùng mới đảm bao tính hợp lý của nó. * Cơ cấu kinh tế mang tính quốc tế và thời đại: Cơ cấu kinh tế vận động theo xu hướng ngày càng mở rộng sự hợp tác phân công lao động trong nước và quốc tế.