Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2009, tỉnh Kon Tum duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ấn tượng đạt 12,65%/năm, khẳng định vị thế một vùng đất giàu tiềm năng tại Bắc Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 9.676,5 km² và độ che phủ rừng lên tới 67,8%. Mặc dù tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng trưởng liên tục từ 1.970,77 tỷ đồng năm 2005 lên mức 4.451,18 tỷ đồng vào năm 2009, nhưng cơ cấu dòng vốn lại bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng khi nguồn vốn ngân sách nhà nước luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 67% (đạt 3.022,31 tỷ đồng năm 2009). Ngược lại, nguồn vốn từ khu vực dân doanh và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với lợi thế ngã ba biên giới Đông Dương dài 280,7 km.

Vấn đề cốt lõi nằm ở việc địa phương chưa xây dựng được một chiến lược marketing địa phương bài bản để định vị thương hiệu và chủ động tiếp cận các nhà đầu tư chiến lược. Hệ quả là Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Kon Tum liên tục nằm ở nhóm thấp của cả nước, cụ thể xếp hạng 61/64 tỉnh thành năm 2006 và chỉ vươn lên hạng 51/63 vào năm 2009 với 54,28 điểm. Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng tại Đại học Đà Nẵng giải quyết trực diện bài toán này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa lý luận marketing địa phương, phân tích toàn diện thực trạng thu hút vốn đầu tư giai đoạn 2005 - 2009, từ đó thiết lập chiến lược marketing địa phương giai đoạn 2010 - 2015 nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tối ưu hóa hệ số ICOR từ mức đỉnh 12,61 lần năm 2005 xuống ngưỡng bền vững dưới 5,0 lần.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết marketing địa phương hiện đại của Giáo sư Philip Kotler kết hợp cùng lý thuyết kinh tế học vĩ mô về vốn đầu tư của John Maynard Keynes và Paul Samuelson. Philip Kotler khẳng định địa phương phải vận hành và tiếp thị chuyên nghiệp như một doanh nghiệp, xem lãnh thổ của mình là một sản phẩm tổng hợp để phục vụ 4 nhóm khách hàng mục tiêu: nhà đầu tư/giới kinh doanh, du khách, cư dân/nguồn lao động chất lượng cao và thị trường xuất khẩu.

Mô hình nghiên cứu triển khai hệ thống marketing-mix 3P chuyên biệt cho địa phương gồm: Sản phẩm địa phương (Product - lợi thế địa kinh tế, hạ tầng KCN, tài nguyên sinh thái), Giá (Price - ưu đãi thuế, giá thuê đất, chi phí gia nhập thị trường) và Truyền thông - Xúc tiến (Promotion - quảng bá hình tượng, sự kiện kinh tế, tiếp cận trực tiếp nhà đầu tư). Bên cạnh đó, tác giả sử dụng 3 khái niệm đo lường trọng yếu: Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI gồm 10 chỉ số thành phần như tính minh bạch, tiếp cận đất đai, tính năng động của lãnh đạo) và Ma trận phân tích SWOT địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2005 - 2009 thu thập từ Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, Cục Thống kê, Ban Quản lý các Khu kinh tế và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên sâu và điều tra bảng hỏi với cỡ mẫu 120 đối tượng, bao gồm đại diện 80 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn và 40 cán bộ quản lý thuộc các Sở, Ban, ngành của tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả 3 vùng kinh tế trọng điểm: thành phố Kon Tum, huyện Ngọc Hồi (Khu kinh tế Cửa khẩu Bờ Y) và huyện Kon Plông (Khu du lịch sinh thái Măng Đen).

Quy trình phân tích kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả, phân tích định lượng hệ số ICOR và kỹ thuật đối chuẩn (benchmarking) với các địa phương thành công như Đà Nẵng, Hội An, Caloundra (Úc) và vùng công nghiệp Rayong (Thái Lan). Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong timeline 12 tháng từ đầu năm 2009 đến giữa năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của Kon Tum giai đoạn 2005 - 2009 tăng trưởng về quy mô tuyệt đối nhưng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu thành phần. Tổng vốn đầu tư tăng 125,8% sau 5 năm (từ 1.970,77 tỷ đồng lên 4.451,18 tỷ đồng), song vốn nhà nước chiếm tỷ trọng trung bình trên 67%, đạt 3.022,31 tỷ đồng năm 2009. Nguồn vốn doanh nghiệp dân doanh tuy tăng trưởng 243,7% (từ 394,15 tỷ đồng lên 1.354,62 tỷ đồng) nhưng chỉ chiếm 30,4% tổng vốn; trong khi đó dòng vốn FDI gần như đóng băng, chỉ xuất hiện 82,17 tỷ đồng năm 2005 và 45,15 tỷ đồng năm 2007.

Thứ hai, độ lệch lớn giữa số lượng dự án đăng ký và năng lực giải ngân thực tế. Trong 5 năm có 164 dự án được chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng vốn đăng ký hàng nghìn tỷ đồng, nhưng tỷ lệ vốn thực hiện chỉ đạt dưới 35%. Điển hình là Dự án trồng 65.000 ha rừng nguyên liệu của Công ty InnovGreen (Hồng Kông) với vốn đăng ký 67 triệu USD, nhưng đến đầu năm 2010 mới chỉ trồng được 377,6 ha và xảy ra vụ cháy hơn 100 ha tại huyện Sa Thầy do vướng mắc giải phóng mặt bằng đất quốc phòng và đất lâm trường.

Thứ ba, môi trường đầu tư bộc lộ nhiều rào cản hành chính. Điểm số PCI năm 2009 đạt 54,28 điểm thì chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo chỉ đạt 2,60/10 điểm (thuộc nhóm thấp nhất cả nước), chi phí gia nhập thị trường đạt 8,92 điểm nhưng cơ sở hạ tầng chỉ đạt 5,03 điểm và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh đạt 6,24 điểm.

Thảo luận kết quả

Hệ số ICOR của tỉnh biến động phức tạp: từ mức rất cao 12,61 lần (năm 2005) giảm mạnh xuống 5,20 lần (năm 2008) nhờ khai thác tài nguyên sẵn có (sản lượng gỗ năm 2007 tăng 82% đạt 42.500 m³), nhưng lại bật tăng lên 7,00 lần vào năm 2009. Điều này phản ánh tình trạng đầu tư dàn trải, chất lượng công trình hạ tầng giao thông vùng cao nhanh xuống cấp và chịu thiệt hại trên 3.000 tỷ đồng do bão số 9 năm 2009.

Khi so sánh với thành phố Đà Nẵng (nơi dẫn đầu PCI toàn quốc và thu hút 18 dự án FDI trị giá 614 triệu USD chỉ trong 8 tháng đầu năm 2008), Kon Tum thiếu hẳn các chiến dịch xúc tiến có trọng tâm. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng thể hiện sự chênh lệch giữa vốn ngân sách và vốn ngoài nhà nước, song song với biểu đồ đường kép biểu diễn mối tương quan nghịch biến giữa xếp hạng PCI và chỉ số ICOR qua từng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái định vị thương hiệu và xây dựng bộ nhận diện marketing địa phương "Kon Tum - Cửa ngõ xanh ngã ba Đông Dương". Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp Sở Thông tin và Truyền thông nâng cấp cổng thông tin xúc tiến đầu tư điện tử đa ngôn ngữ, số hóa bản đồ quy hoạch đất đai, hướng tới mục tiêu tăng 45% lượt tiếp cận của các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong giai đoạn 2011 - 2013.

Thứ hai, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và nâng cao tỷ lệ lấp đầy tại 3 vùng kinh tế động lực. Ban Quản lý các Khu kinh tế tập trung nguồn lực hoàn tất hạ tầng KCN Hòa Bình (quy mô 160 ha, tổng vốn 268,236 tỷ đồng) và KCN Sao Mai (quy mô 150 ha, tổng vốn 166,3 tỷ đồng); đồng thời khai thác triệt để hạ tầng giao thông 10.228,57 tỷ đồng tại Khu kinh tế Cửa khẩu Bờ Y, phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy KCN trên 60% vào năm 2014.

Thứ ba, đột phá cải cách thủ tục hành chính nhằm cải thiện Chỉ số PCI. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh thiết lập quy trình "Một cửa liên thông", cắt giảm tối thiểu 30% thời gian thẩm định dự án, nâng điểm số chỉ số tính năng động của lãnh đạo từ 2,60 lên trên 6,50 điểm, đưa PCI Kon Tum lọt vào top 30 tỉnh thành dẫn đầu cả nước trước năm 2015.

Thứ tư, đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực và liên kết chuỗi giá trị. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 26,20% năm 2009 lên 40,00% năm 2015, ưu tiên đào tạo trên 5.000 lao động địa phương phục vụ nông nghiệp công nghệ cao (sâm Ngọc Linh, cao su, cà phê) và du lịch sinh thái Măng Đen.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Lãnh đạo các Sở, Ban, ngành và Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Kon Tum và các tỉnh Tây Nguyên. Luận văn cung cấp khung chiến lược marketing 3P thực chiến để chuyển từ tư duy quản lý thụ động sang tư duy bán hàng địa phương, giúp hoạch định các gói chính sách ưu đãi đất đai và thuế minh bạch.

Nhóm thứ hai là Các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư FDI. Luận văn cung cấp báo cáo thẩm định chi tiết về 3 vùng động lực, quy hoạch sử dụng đất tại KCN Hòa Bình, KCN Sao Mai, tiềm năng thủy điện Sê San (công suất 1.740 MW) và khu du lịch 5.000 ha Măng Đen để xây dựng kế hoạch rót vốn chính xác.

Nhóm thứ ba là Giảng viên, chuyên gia và viện nghiên cứu kinh tế phát triển. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phân tích định lượng hệ số ICOR, biến thiên chỉ số PCI và bài học marketing lãnh thổ tại vùng miền núi đặc thù.

Nhóm thứ tư là Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh, Marketing và Chính sách công. Luận văn là hình mẫu ứng dụng lý thuyết Marketing địa phương của Philip Kotler vào phân tích thực chứng một địa bàn cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn xác định điểm nghẽn lớn nhất trong thu hút đầu tư của Kon Tum giai đoạn 2005 - 2009 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự phụ thuộc quá mức vào vốn ngân sách nhà nước (chiếm trên 67% tổng vốn đầu tư, đạt 3.022,31 tỷ đồng năm 2009), trong khi dòng vốn FDI gần như bằng 0 và nguồn vốn dân doanh chỉ chiếm 30,4%. Nguyên nhân trực tiếp là thiếu chiến lược marketing địa phương và xếp hạng PCI ở nhóm thấp (hạng 51/63 năm 2009).

Mô hình Marketing-mix 3P địa phương được ứng dụng như thế nào trong luận văn? Mô hình 3P gồm: Sản phẩm (Product) là tiềm năng đất lâm nghiệp 747.168 ha, cửa khẩu Bờ Y và KDL Măng Đen; Giá (Price) là các ưu đãi về tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí gia nhập thị trường (đạt 8,92 điểm PCI); Xúc tiến (Promotion) là các chiến dịch quảng bá hình tượng và đối thoại trực tiếp với nhà đầu tư.

Hệ số ICOR cao của Kon Tum giai đoạn 2005 - 2009 phản ánh thực trạng gì? Hệ số ICOR đạt mức 12,61 lần năm 2005 và 7,00 lần năm 2009 cho thấy hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Vốn đầu tư bị phân tán vào các dự án hạ tầng kéo dài, suất đầu tư trên một đơn vị tăng trưởng GDP cao do địa hình chia cắt và thiệt hại thiên tai, điển hình là bão số 9 năm 2009 gây tổn thất trên 3.000 tỷ đồng.

Ba vùng kinh tế động lực của tỉnh Kon Tum có đặc điểm quy hoạch ra sao? Ba vùng gồm: Thành phố Kon Tum với KCN Hòa Bình (160 ha, vốn hạ tầng 268,236 tỷ đồng) và KCN Sao Mai (150 ha, vốn 166,3 tỷ đồng); Huyện Ngọc Hồi với Khu kinh tế Cửa khẩu Bờ Y (hạ tầng giao thông 10.228,57 tỷ đồng); Huyện Kon Plông với Khu du lịch sinh thái Măng Đen quy mô 5.000 ha (quy hoạch chi tiết 720 ha).

Chỉ số tính năng động của lãnh đạo tỉnh ảnh hưởng thế nào đến thu hút đầu tư? Chỉ số này của Kon Tum năm 2009 chỉ đạt 2,60 điểm (trung vị cả nước là 5,04 điểm), cho thấy tính linh hoạt và sự đồng hành của bộ máy hành chính với doanh nghiệp còn yếu. Nâng cao chỉ số này là yếu tố quyết định để cải thiện PCI và tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư mới.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về kinh tế Kon Tum giai đoạn 2005 - 2009 với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 12,65% nhưng dòng vốn đầu tư tư nhân và FDI còn phân tán.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc chuyển đổi mô hình quản lý địa phương sang tư duy tiếp thị chiến lược dựa trên lý thuyết của Philip Kotler.
  • Đánh giá sâu sắc mối liên hệ giữa các chỉ số vĩ mô như ICOR (dao động từ 5,20 đến 12,61 lần) và 10 chỉ số thành phần PCI (đạt 54,28 điểm năm 2009).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp marketing địa phương đồng bộ gắn với 3 vùng kinh tế động lực (thành phố Kon Tum, Bờ Y, Măng Đen).
  • Xây dựng lộ trình hành động chi tiết giai đoạn 2010 - 2015 nhằm tối ưu hóa nguồn lực đất lâm nghiệp 747.168 ha và nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 40%.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đặt nền móng phương pháp luận khoa học về marketing địa phương cho các tỉnh miền núi Tây Nguyên, chuyển hóa tiềm năng tài nguyên thành dòng vốn phát triển thực tế. Các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp hãy khai thác ngay nguồn dữ liệu và khung chiến lược này để triển khai các dự án đầu tư hiệu quả tại Kon Tum.