Chương 1: Lý luận chung về du lịch và chiến lược phát triển du lịch. Chương 2: Thực trạng ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua (giai đoạn 2006 - 2010). Chương 3: Chiến lược phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020. CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE DU LICH VA CHIEN LUQC PHAT TRIEN DU LICH 1.
TONG QUAN VE DU LICH 1. Khái niệm và các đặc trưng của hoạt động du lịch 1. Khái niệm dụ lịch Hoạt động du lịch có nguồn gốc từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh. Theo Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế đã công bó du lịch là ngành kinh tế lớn của thé giới, trở thành một đề tài hấp dẫn và mang tính chất toàn cầu.
Tuy nhiên, khái niệm "du lịch” được hiểu rất khác nhau [2, tr. 5-7], như: ~ Xuất phát từ ngữ nghĩa của từ "Du lịch": Trong ngôn ngữ tiếng Anh, Pháp, Nga sit dụng các từ Tourism, Le Toursime, Typuzm. Do đó "du lịch" có nghĩa: khởi hành, đi lại, chỉnh phục không gian. Ở Đức sử dụng từ Deriremdenverkchrs có nghĩa là lạ, đi lại và mối quan hệ.
~ Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ của các đổi tượng tham gia "Hoạt động du lịch": Đối với người đi du lịch thì đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một địa danh ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tỉnh thần của mình. Đối với chủ cơ sở kinh doanh du lịch thì đó là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Đối với chính quyền địa phương thì đó là việc tô chức các điều kiện về cơ sở hạ tẳng, cơ sở. vật chất, kỹ thuật đề phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động đa dạng giúp đỡ việc lưu trú, hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho ngân sách, nâng cao mức sóng của dân cư; tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng.
~ Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những người đựa ra định nghĩa: Theo GS.TS Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời". Bổ sung cho quan niệm trên, Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna (Bungari) định nghĩa: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn; chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ, hàng hoá của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập; đó là tổ chức các xí nghiệp với cơ sở vật chit ky thuật chuyên môn nhằm bảo đảm sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thoả mãn các nhu cầu cá thể về vật chất, tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên mà không có mục đích kiếm lời Ở Mỹ, ông Michael Coltman quan niệm: "Du lịch là sự kết hợp của 4 nhóm nhân tổ trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch". Trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn hoạt động du lịch trên thé gi và Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) định nghĩa: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tô chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu vẻ đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lich. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lich và bản thân doanh nghiệp" [2, tr.
16] Qua nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch từ trước đến nay, luận văn xét thấy định nghĩa về du lịch của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là phù hợp với xu thế phát triển ngành du lịch hiện nay và phù hợp với đề tài nghiên cứu. Các đặc trưng của hoạt động du lịch Theo các khái niệm về “du lịch” cho thấy du lịch là một hoạt động có nhiều. đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội.
a) Du lịch là tổng hợp của nhiều hoạt động Du khách trong một chuyến du lịch, bên cạnh các nhu cầu đặc trưng từ mục đích chủ yếu: tham quan, giải trí, nghỉ ngơi. còn nhiều nhu cầu khác: như: ăn, ngủ, đi lại, mua sắm, điện thoại, chuyển tiền. Các hoạt động trên được cung ứng từ nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao thông, bưu chính. Do đó, để hoạt động.
du lịch có ệu quả cao cần phải coi trọng, phối hợp đồng bộ các hoạt ông, xử lý tốt các quan hệ nảy sinh giữa các bên: khách du lịch, đơn vị tô chức, inh doanh dịch vụ, cơ quan QLNN và dân cư địa phương. Du lịch còn là một hoạt động có nội dung văn hóa, một cách mở rộng không gian văn hoá của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc. b) Sản phẩm du lịch và những đặc trưng của nó Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. Theo Luật Du lịch của Việt Nam (năm 2005) quy định: *Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm. đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” [9] Các đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch [2, tr. 27-29]: - Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình, không tôn tại dưới dạng vật thế, trong đó yếu tố hữu hình (là hàng hoá chỉ chiếm khoảng 10 - 20%) và yếu tố vô hình (là dich vu du lịch, thường chiếm khoảng 80 - 90%. Dịch vụ là kết quả hoạt động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế.
Chất lượng dịch vụ chính là sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dich vụ là: sự tin cậy, tỉnh thần trách nhiệm, sự bảo đảm, sự đồng cảm và tính hữu hình. ~ Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yêu tổ TNDL. TNDL bao gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch.
TNDL có thể trực tiếp. hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng các sản phẩm đó, thoả mãn nhu cầu của mình. ~ Phân lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian.
Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa khác. Do vậy, để tao sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn. Vi: thu hat khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lich. ~ Hoạt động kinh doanh du lich thường mang tính mùa vụ.
Việc tiêu thụ sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, có thể chị trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phâm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch nghỉ biển, núi. ~ Có 3 yếu tổ tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch: khách du lịch, nhà cung ứng và phương tiện. cơ sở vật chất kỳ thuật. + Khách dụ lịch: Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch (năm 2005) của Việt Nam: *Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [9] + Các nhà cung ứng du lịch bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dich vụ cho du khách.
Các tô chức chuyên trách về du lịch thường được tổ chức theo mục tiêu tài chính hay theo quá trình. Các tổ chức này có nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch (về sinh lý, an toàn, giao tiếp xã hội.) để cung ứng dịch vụ thoả mãn sự trông đợi của họ (sự tao nhã, sự sẵn sảng, kiến thức.); chăm lo đến việc đảm bảo đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch và phạm vỉ hoạt động bao gồm: kinh doanh khách sạn, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác. + Cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Là toàn bộ cơ sở hạ tằng xã hội bảo đảm. các điều kiện phát triển cho du lịch và phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá thoả mãn nhu cầu của du khách.
Các yếu tố đặc trưng là hệ thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bồ trợ. ©) Thị trường du lịch và những đặc trưng của nó Thị trường du lịch có ba chức năng, gồm: thực hiện và công nhận; thông tin và điều tiết, ch thích. Đối ví i co quan QLNN, thị trường là công cụ để hoạch định chính sách quản lý du lịch. Thông qua định hướng, điều tiết cung, cầu nhằm sử dụng hợp lý TNDL, thiết lập môi trường pháp lý thuận lợi, bảo đảm hoạt động đạt hiệu quả KT - XH, bảo vệ môi trường thiên nhiên, cảnh quan.