Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH KIỂU TÁC GIẢ NHÀ NHO ẨN DẬT NGUYỄN KHUYẾN 1. Bối cảnh lịch sử - văn hóa của nước ta cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Về mặt lịch sử, Việt Nam có những chuyển biến quan trọng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Sự kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử dân tộc lúc bấy giờ chính là cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào sáng ngày 1/9/1958. Theo Nguyễn Lộc, thực dân Pháp đã có dã tâm cướp nước ta từ trước đó: Vào cuối thế kỉ XVIII, lợi dụng lúc Nguyễn Ánh đang lúng túng trong việc chống Tây Sơn, thực dân Pháp đã viện trợ cho Nguyễn Ánh, và buộc ông ký với triều đình Luy XVI một hiệp ước nhường cho “nhà vua và triều đình Pháp quyền sở hữu tuyệt đối và chủ quyền về cửa bể Đà Nẵng”, và người Pháp là người nước ngoài duy nhất được buôn bán hoàn toàn tự do “trên các xứ thuộc quyền vương quốc Nam Kỳ”.
Nhưng âm mưu xâm chiếm của Pháp nửa chừng bị dừng lại vì cuộc Cách mạng tư sản 1789-1794 và vì một loạt biến cố khác. Mãi đến giữa thế kỷ XIX, con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân mới lại thò vòi sang các nước phương Đông [26, tr. Thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn ngăn cản việc thông thương và giết giáo sĩ, chúng nổ súng bắn phá và đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà đánh dấu sự xâm chiếm Việt Nam. Sau năm tháng nhận thấy cuộc chiến tranh của mình không có tiến triển, thực dân Pháp đã thay đổi kế hoạch.
Chúng để lại một lực lượng nhỏ ở Đà Nẵng để giam chân quân lính triều đình, còn lại kéo vào tấn công Gia Định ở miền Nam. Từ Vũng Tàu, thực dân Pháp pháo kích các con đường thủy vào Gia Định vào ngày 10 tháng 2 năm 1859, chỉ mấy ngày sau đó Pháp đã chiếm được thành Gia Định. Thời gian sau đó, thực dân Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và ba tỉnh miền tây Nam e 11 Kỳ. Sau khi toàn bộ Nam Kỳ đã rơi vào tay giặc, chúng bắt đầu đánh ra Trung Kỳ, Bắc Kỳ, hoàn toàn đặt ách thống trị lên toàn bộ đất nước ta.
Đây là sự kiện quan trọng nhất làm khuynh đảo nước ta cuối thế kỉ XIX. Thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên chế về chính trị điển hình của chủ nghĩa thực dân cũ. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, tuy nhiên chúng lại duy trì chính quyền phong kiến làm tay sai, bù nhìn, chỗ dựa. Pháp chia rẽ ba nước Đông Dương.
Tại Việt Nam, chúng chia nước ta thành ba kì với ba chế độ cai trị khác nhau (Bắc Kì là đất “bảo hộ”, Trung Kì là xứ nửa bảo hộ, còn Nam Kì là đất thuộc địa). Việt Nam từ một nước phong kiến trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Điều này nảy sinh ra những giai cấp, những tầng lớp mới trong xã hội như công nhân, tư sản, tiểu tư sản, … Sự nhu nhược của triều đình phong kiến thể hiện rõ rệt khi kí hòa ước Pa-tơ-nốt vào ngày 13 tháng 5 năm 1884 chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, đánh dấu sự đầu hàng của triều đình. Nhà Nguyễn thay vì cùng nhân dân đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước lại vì quyền lợi của mình, muốn giữ vững ngai vàng mà chấp nhận đầu hàng, làm tay sai cho giặc.
Người dân phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Nhân dân trước kia chịu sự áp bức, bóc lột của giai cấp phong kiến nay lại khốn đốn hơn với chính sách cai trị của chế độ thực dân. Hoàn cảnh lịch sử đã đẩy người dân trở nên bi thảm hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, cả dân tộc ta với tinh thần yêu nước mãnh liệt đã tiến hành các phong trào khởi nghĩa, đấu tranh cũng diễn ra rầm rộ chống lại kẻ thù.
Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, giai cấp phong kiến lúc đầu còn chống đối một phần, nhưng dần dần họ quay lại thỏa hiệp và đầu hàng thực dân Pháp. Trong bộ phận chủ chốt, đầu não của triều Nguyễn lúc bấy giờ cũng chia làm hai phái, một phái với tư tưởng chủ hòa với giặc với chủ trương giữ thế với giặc, họ muốn kéo dài thời gian để e 12 thực dân Pháp “mệt mỏi”; còn một phái với tư tưởng chủ chiến đánh giặc. Điển hình như phong trào Cần Vương (1885-1896) do nhà vua yêu nước Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, phong trào Đông Kinh nghĩa thục, cuộc vân động Duy Tân,… Thất bại của phong trào Cần Vương cũng như những phong trào đấu tranh, yêu nước khác đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Trong khi Nam Kỳ chống giặc thì miền Trung và miền Bắc bọn phong kiến lại tăng cường bóc lột người dân thậm tệ.
Chính vì vậy, nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra. Nhà Nguyễn đứng trước hai mâu thuẫn, bên ngoài thực dân Pháp đang xâm lược, bên trong phong trào khởi nghĩa nông dân ngày càng rầm rộ. Triều đình nhà Nguyễn quay lại cấu kết với kẻ thù để đàn áp nhân dân. Từ đây, triều đình mất đi vai trò của mình và là mục tiêu đả kích của nhân dân bên cạnh thực dân Pháp.
Sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây gắn liền với cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã dẫn đến những chuyển biến sâu sắc về mặt văn hóa – xã hội của nước ta cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Thực dân Pháp tiến hành chính sách giáo dục thực dân, kìm hãm và nô dịch về mặt văn hóa, thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề thống trị. Chúng ngăn cản những ảnh hưởng tiến bộ của thế giới vào Việt Nam, khuyến khích những văn hóa độc hại, ru ngủ nhân dân bằng các hoạt động mê tín dị đoan. Một loạt những đô thị mới ra đời gắn liền với sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của tầng lớp tiểu tư sản, thị dân, những quan chức mới phục vụ cho Pháp.
Cơ cấu các giai tầng trong xã hội thay đổi, đồng tiền ngày càng được đề cao, lối sống phương Tây du nhập một cách ồ ạt, những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ít nhiều bị mai một. Hệ tư tưởng nho giáo dần lụi tàn và đổ vỡ, mất đi vai trò độc tôn của e 13 nó, trở nên lỗi thời. Nho giáo đã bộc lộ những nhược điểm và yếu kém của nó về mọi mặt, cản trở sự phát triển của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Đứng trước thực tế mất nước và sự bế tắc về hệ tư tưởng, đường lối cứu nước, tầng lớp nho sĩ đã có sự xáo trộn, phân hóa mạnh mẽ.
Thực dân Pháp cũng bắt đầu chú ý về vấn đề hoạt động văn hóa. Ở Nam Kỳ, chúng tiến hành mở trường dạy Pháp – Việt cho trẻ em, sau này mở them nhiều trường dành cho cả trẻ em và người lớn, thực dân còn mở cả trường thông ngôn để đào tạo hàng loạt tay sai cho giặc. Chúng còn có ý định thay chữ Hán bằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh nhưng bị phản đối gay gắt của nhân dân. Cuối thế kỷ XIX, trong đời sống văn hóa tư tưởng đã nổ ra những chủ trương cải cách xã hội của một số sĩ phu theo hướng tiếp thu những nền văn hóa ngoại lai như phương Tây.
Tựu chung, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một xã hội ba đào đầy biến động. Thực dân Pháp xâm lược tạo ra trang sử đau thương cho dân tộc kèm với đó là sự biến đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục,… đầy phức tạp. Chính những điều kiện lịch sử, xã hội này đã tạo nên sự biến chuyển mạnh mẽ trong đội ngũ nhà nho. Đây cũng là một trong những điều kiện hình thành kiểu tác giả nhà nho ẩn dật Nguyễn Khuyến.
Kiểu tác giả nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX là chặng đường đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong dòng chảy của văn học Việt Nam, với sự góp mặt đông đảo của lực lượng sáng tác là nho sĩ. Loại hình tác giả nhà nho ẩn dật hình thành từ thế kỉ XIII và kéo dài đến hết thế kỉ XIX là một trong hai loại hình tác giả chính thống bên cạnh nhà nho hành đạo. Các tác giả là nho sĩ ẩn dật này đã đóng góp những thành tựu to lớn vào nền văn học trung đại Việt Nam. Nghiên cứu về nhà nho ẩn dật, tác giả Lê Văn Tấn đã chỉ ra điều kiện e 14 hình thành và cơ sở để nhận diện loại hình nhà nho ẩn dật trong văn học trung đại Việt Nam [47].
Trước hết, cần hiểu ẩn là biết mà che đi, giấu đi, lánh đi, không bộc lộ ra. Ẩn dật nghĩa là lánh đời ở ẩn, yên vui ở một nơi nào đó. Theo Lê Văn Tấn, tùy theo mức độ ẩn mà xác định có bốn loại: Loại tỵ ngôn (giấu ngôn): biết mà không nói, tức không bộc lộ cái thật của mình. Loại tỵ sắc (giấu đi hình thức, hình thể, những suy nghĩ bên trong): không bộc lộ, không biểu hiện ra bên ngoài.
Loại tỵ địa (giấu nơi ở): không ở chỗ này mà chuyển sang địa điểm, không gian khác. Loại tỵ thể (tránh trời, giấu trời, giấu đi tâm thể, cảm xúc): tự làm cho mình “lạnh việc đời”, đây được coi là chỗ của bậc đại ẩn. Quan niệm về tác giả nhà nho ẩn dật, chúng tôi đồng quan điểm với cách hiểu của Lê Văn Tấn: Tác giả nhà nho ẩn dật là những tác giả có thể chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo trong việc lựa chọn con đường hành đạo - nhập thế nhưng khi về ẩn dật, họ đã tiếp thu linh hoạt tư tưởng Lão - Trang và phần nào tư tưởng Phật giáo; họ có thể đi ở ẩn suốt đời hoặc chỉ đi ở ẩn trong khoảng thời gian nào đó và có sáng tác văn chương thể hiện cuộc sống, tư tưởng ẩn dật [47, tr. Nhà nho hành đạo tìm lẽ sống cho mình trong học thuyết nho giáo.
Nhà nho ẩn dật viện đến học thuyết Lão Trang hay đạo Phật mà tìm ý nghĩa cuộc đời ngoài cái nho giáo chỉ cho họ.