CHƯƠNG 1 VAN XUOI VO THI XUAN HA - DONG RIENG CUA TIENG NOI NT QUYEN 1. GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM. Nữ quyền Khái niệm nữ quyền ra đời và gắn liên với hoạt động chính trị và xã hội, khởi nguồn từ ý thức về sự bình đăng trên phương diện giới. Nghĩa là khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ.
hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đỏi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới. “Trong thời hiện đại, khái niệm nữ quyền đã dần trở nên khá quen thuộc với con người, được sử dụng khá phổ biến rộng trong phạm vi xã hội. Ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khái niệm này tạo ra những sự ảnh hưởng, những phản ứng khác nhau do đặc thù lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội. gắn liền với vấn.
Ở phương Tây, nơi khởi sinh ra phong trào nữ quy: „ phụ nữ đặt mình trong tu thế đối lập với nam giới để đầu tranh giành quyền bình đẳng. và dấy lên những hoạt động chính trị ~ xã hội mang tinh nữ quyển thuẫn túy. 'Ở phương Đông, Trung Quốc và Việt Nam, phong trào nữ quyền gắn liền với phong trào cứu quốc và nữ giới sát cánh cùng nam giới có tư tưởng tiến bộ để vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa cởi trói cho giới của mình khỏi những. ràng buộc cũ kĩ của xã hội.
Do vay, trio lưu nữ quyền ở phương Đông mang. nét riêng, tạo nên sự khác biệt so với Phương Tây. Nó không diễn ra một cách mạnh mẽ, độc lập và có tính đối kháng với nam giới quyết liệt như ở phương. Về bản chất, đó không phải là cuộc đấu tranh của một giới phản kháng.
lại một giới mà là cuộc đầu tranh chung của một cộng đồng xã hội có tư tưởng, cấp tiến về giới chống lại những hệ tư tưởng cỗ hủ áp bức người phụ nữ. 4 hình thức tồn tai, do có diễn biến lịch sử như vậy nên ý thức nữ quyền ở phương Đông tồn tại trong trạng thái thầm lặng, kín đáo và “nhu mì” hơn, có. tính chất của một ý thức xã hội hơn là một hệ tư tưởng. Do vậy, các nhà văn thường có tâm lý ngại khái niệm “nữ quyển” với sắc thái chính trị.
Nhiều nhà văn nữ không có ý thức rõ ràng về ý thức nữ quyền, mặc dù, tác phẩm của họ đề cập đến thân phận người phụ nữ với cái nhìn sâu sắc. 'Có thể khái quát về khái niệm nữ quyền là: Quyên bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục. Khái niệm “nữ quyên” ở cấp độ rộng là quyển lợi của người phụ nữ: trong thé tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là “nam nữ bình quyên ”. Ở cắp độ hẹp thì “nữ quyên” có mồi liên quan với các khái niệm như.
“giới tỉnh”, "phái tính” trong văn học. Nếu như "giới tính”, “phái tính” là những công cụ đề khu biệt đặc tinh giữa hai phái (nam/nữ) thì khái niệm lữ quyền ” không chỉ dừng lại đó mà mục địch của nó hướng tới là sự bình quyển của nam nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới" [68]. ‘Tom lại, khái niệm nữ quyền đang tồn tại và được sử dụng phổ biến ngày cảng rộng khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị và đời sống xã hội. Nó cũng đang dần đóng dấu ấn ngày càng đậm nét trong văn học.
Vì vậy, khảo sát văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, chúng tôi vận dụng linh hoạt khái niệm. nữ quyền theo nghĩa rộng, đó là tiếng nói nghiêng vẻ giới vàý thức xác tín cá biệt nữ một cách rõ rệt của cây bút nữ này. Thuyết nữ quyền © phuong Tay, lý thuyết nữ quyền ra đời từ những phong trào đấu tranh. xã hội, sản phẩm của phong trào đấu tranh cách mạng tư sản cận đại.
Với mục tiêu chống lại sự thống trị của nam giới, phản kháng và phê phán mạnh mẽ chế độ áp bức phụ nữ, đấu tranh đồi quyển lợi cho giới nữ và tiến đến mục tiêu cao nhất bình đẳng giới. Theo đó, quan điểm về giới và ý thức nữ quyền hình thành 15 trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Trên thực tế, nếu có thể nhận thức đúng đắn về giới sẽ góp phần nâng cao sự phát triển của phụ nữ, ý thức đúng và khẳng định vai trò của giới nữ trong đời sống, nhằm hướng tới sự bình quyền của nam nữ trên mọi lĩnh vực, từ đó nữ giới có thể tự xác tín cá biệt về giới mình. Khái niệm thuyết nữ quyền không ôn định, luôn có những sự thay đổi để phù hợp với nhu cẩu thời dại.
Căn cứ vào thực trạng xã hội, mức độ cụ thể về lịch sử và văn hóa, thuyết nữ quyền định hình khái niệm trong sự ý thức, nhận. thức và hành động cụ thể. Đến nay, cách hiểu phổ biến rộng nhất về thuyết nữ. quyền chính là sựý thức về tình trạng bị đối xử bắt bình đẳng của phụ nữ, từ đó.
hành động cụ thể dé thay đồi tình trạng bắt bình đẳng đó. Xét về bản chất, đi tượng trung tâm của thuyết nữ quyền chính là phụ nữ, coi phụ nữ là chủ t trung tâm trong quá trình nghiên cứu. Xuất phát từ kinh nghiệm của phụ nữ để thể nghiệm, phê phán những tư tưởng cản trở sự tiền bộ của phụ nữ, hướng đến giải phóng tự do và đạt được bình đẳng giới. Tóm lại, thuyết nữ quyền là một thuật ngữ chỉ “học thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ so với nam: giới" [30, tr.
Điểm chung của các lý thuyết về nữ quyền đều cùng mô tả, tái hiện sự áp bức phụ nữ, đi vào lý giải nguyên nhân và kết quả của tình trạng 'bắt bình đẳng và đưa ra những chiến lược, sách lược giải phóng phụ nữ. Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới sau 1986, cùng với quá trình giao lưu hội nhập với quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì các tư tưởng lý thuyết nữ quyển, quan điểm giới cũng nhanh chóng được truyền bá và phô biển rộng khắp. Để đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết về mặt lý luận cho. việc xây dựng một lý thuyết nữ quyền, lý thuyết gi: phù hợp với tình hình ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu các lý thuyết nữ quyền thế giới, tìm hiểu hệ thống quan điểm của các nhà nữ quyền tiên phong và áp dụng chúng, vào bối cảnh thực tiễn của xã hội và văn học nước ta.
Chú nghĩa nữ quyền Những nội dung của khái niệm nữ quyển và thuyết nữ quyển gắn bó chặt chẽ và được thể hiện rõ qua từng chặng đường phát triển của chủ nghĩa nữ quyền trên thể giới Chủ nghĩa nữ quyền được hiểu khái quát là “hệ hống các quan điểm vẻ tình trạng của phụ nữ. Hệ thắng các quan điểm này bao gồm sự mô tả, sự. phân tích, sự giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng áp bức phụ nữ và đưa ra những chiến lược giải phóng phụ nữ. Có thẻ nói ring tý thuyết nữ quyển là hệ tư tưởng giải phóng phụ nữ, là chủ nghĩa nam nữ: bình quyên” [30, trl5].
phương diện xã hội học, chủ nghĩa nữ quyền hình thành từ nguyên nhân bắt bình đẳng giới và hiện thân qua các cao trào đầu tranh. Tắt cả những, vấn đề hạn chế sự phát triển của phụ nữ trở thành lằn ranh phân biệt và đầy họ. vào cuộc sống đầy rẫy những sự bắt bình đẳng so với nam giới. Nữ giới không.
được công nhận đúng với sứ mệnh của họ và người phụ nữ đứng lên đầu tranh lên tiếng đòi hỏi quyền lợi cho giới mình. Trước làn sóng đấu tranh quyết liệt gây ra những dư chắn lớn trong xã hội, nhiều hội nghị bàn về nữ quyển đã được triệu tập. Đây là căn cứ, cơ sở xã hội hình thành phê bình nữ quyền luận và lý thuyết nữ quyền trong văn học, sự xác lập dựa trên các cao trào nữ quyền. trên thể giới.
Vào đầu những năm 90 của thế kỉ XX, các lý thuyết nữ quyền từng bước. được truyền bá vào Việt Nam, quá trình này gắn liền với quá trình nghiên cứu. và truyền bá giới. Trong khoảng 5 năm đầu của thập niên cuối thể ki XX, những tư tưởng cơ bản của quan điểm giới đã được truyền bá tương đối thành công vào nước ta, và nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng trong khoa học nghiên cứu về phụ nữ và công cuộc giải phóng phụ nữ.
Khái niệm giới là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định 7 cho nam và nữ. Nhìn từ góc độ xã hội, giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thé. Mỗi giới có những điểm chung và những nhu cầu riêng của giới mình. Mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò của mình.
Năm năm tiếp sau đó, vấn đẻ giới đã trở nên quen thuộc ở nước ta. Các lý thuyết về quan điểm giới, lý thuyết nữ quyền phương Tây đã được phổ biến rộng rãi. Bắt đầu từ những năm đầu thế ki XXI, quan điểm giới đã thực sự làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vĩ của người dân Việt Nam đối với các vấn đề phụ nữ. Lý thuyết nữ quyền hiện thân trong chủ nghĩa nữ: quyền đã và đang trở thành sự định hướng hành động trong quá trình phát triển bền vững ở nước ta.
“Trong đời sống văn học, chủ nghĩa nữ quyền mang theo các tư tưởng. tiến bộ của lý thuyết nữ quyền thế giới hiện diện trong công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và văn hóa văn học. Nó được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm tìm hiểu và tiếp nhận một cách chọn lọc. Điều này góp phần làm thay đổi cách nhìn nhận về mọi mặt của văn học.
từ quan niệm về khách thể thắm mỹ, lực lượng sáng tác và các phương thức. biểu hiện trong văn học Việt Nam nói chung, trong văn học nữ giới sau 1986 nói riêng. Để từ đó, văn học nữ từng bước khẳng định sắc diện mới trên văn. ig thời, các lý thuyết nữ quyền cũng được vận dụng linh hoạt và sáng tạo tong hoạt động nghiên cứu phê bình văn học, 1.
Văn học nữ quyền 'Văn học nữ quyền không tổn tại tách biệt mà hình thành và phát triển với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rột trong ding văn học nữ.