mở đầu trong sự nghiệp văn chương của Tản Đà. Cũng trong năm này ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, co gái một người trì huyện ở Hà Đông và bốt đầu có bải viết trên Đông Dương tạp chỉ với chuyên mục Một lối văn Nöm. Năm 1916, sau khi người anh cả Nguyễn Tái Tích qua đời, gia đình trở nên nghèo túng và thiếu thốn, ông phải tự xoay xở kiếm sống. Ông tiếp tục cộng tác với tờ Đồng Duong tap chí và lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà và chính thức chon con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.
Ngoài viết văn, làm thơ, ông còn viết tuổng, đựng vở cho các rạp. Tân Đà là người rất tích cực viết bài cho các báo như Đồng Dương rạp chí, Nam. Nam 1925, khi phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân dấy lên mạnh mẽ ở nhiều vùng của đắt nước, ông tham gia hoạt động xã hội tích cực. hơn, xông xáo hơn và viết bài trên nhiều báo thể hiện tinh thần này.
Tháng 2 năm 1928, Tản Đà chuyển đến vùng Yên Lập thuộc tỉnh Vĩnh Yên định cư, nhưng chưa được bao lâu, bị quan lại địa phương gây khó dễ, ông lại phải xuống Hải Phòng, rồi trở về Hà Nội. Nam 1937, Tản Đà chuyển về sống ở làng Hà Tri (Hà Đông). Thời gian nay Tan Đà tham gia dịch thuật, viết báo, làm thơ. Tại đây, ông lại xung khắc với giới chức dịch địa phương, bị chúng thù ghét, gây khó dễ nên lại phải chuyển ra Hà Nội mở lớp dạy Quốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng.
kiêm cả xem lý số Hà lạc để kiếm sống. Đây cũng là quãng thời gian khó khăn nhất của ông. Tuy nhiên với cốt cách của một nhà nho tài tử, dù trong. hoàn cảnh nào, lối sống phong cách của ông vẫn không thay đổi.
Ông luôn thể hiện một phong thái tự tại, ung dung, hào hoa ngay cả trong cơn túng. Do ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới và phong trào *Tân học”, Tản Đà, con người thuộc phe “cựu học”, làm thơ cũ đã dẫn dẫn trở nên cô độc. "Tên tuổi ông gần như bị đấy lùi vào đĩ văng, nhường chỗ cho các nhà thơ mới. Với việc "An Nam tạp chí" đình bản vĩnh viễn, cuộc sống của Tản Đà vốn nghèo túng lại cảng trở nên thiếu thốn hơn.
Những năm cuối đời Tản Đà bỗng được mọi người quan tâm trở lại. Phe "Thơ mới" sau chiến thắng, đã không còn đả kích Tản Đà. Họ bắt đầu lật lại những gì Tản Đà đã cống hiến xưa nay, họ ca ngợi Tân Đà, xem ông như một ông Thánh của làng thơ. Tan Da— Nguyễn Khắc Hiếu.
t vào ngày 07 tháng 06 năm 1939 tại Hà Nội trong sự thương tiếc của bạn bè, đồng nghiệp và độc giả yêu mến. Sau khi qua đời, thì hài ông được người thân và bạn bè mai táng tại nghĩa trang Quảng Thiện, Hà Nội. Năm 1941, Hoài Thanh và Hoài Chân trong tác phẩm Thí nhân Việt "Nam, đã cung kính đặt Tân Đà lên ngồi ghế "chủ suý” của hội tao đàn, coi ông như một người mở lồi cho thi ca Việt Nam bước vào một thời đại mới. Cuộc đời của Tân Đà giống như một bản nhạc, lúc trằm, lúc bồng.
“Chính trong hoàn cảnh cuộc sống như vậy, những trải nghiệm cuộc đời tưởng chừng như không thể vượt qua ấy đã cho Tản Đà thêm nghị lực, thêm kinh nghiệm sống để sáng tác nên những áng văn chương hay như vậy. Có người tiếc thay cho Tân Đà, ước cho ông được sinh ra trong một hoàn cảnh khác, có cuộc sống sung túc hơn, giàu sang hơn. Nhưng nếu điều đó xảy ra thật, chưa. chắc chúng ta đã có một Tản Đà với những câu văn như ám ảnh lòng người như thế, 1.2 Sự nghiệp sáng tác Với một di sản tác phẩm khá đồ sộ gồm thơ, văn xuôi, kịch bản sân khấu, tác phẩm báo chí, tác phẩm dịch thuật.
Tản Đà xứng đáng được coi là hiện tượng tiêu biểu của văn học Việt Nam dau thé ky XX. Trong lich sir van học nước nhà, sau Nguyễn Khuyến, Tú Xương. những con người đại diện cho lớp nhà văn kiểu truyền thống thì Tản Đà là một kiểu mẫu nhà văn mang tính chất chuyển tiếp. Nếu không có sự xuất hiện của Tản Đà thì lịch sử văn.
chương chúng ta rõ ràng sẽ lộ ra một khoảng trống lớn. Nếu không có Tản Đà, người dạo bản nhạc mở đầu thì phong trào Thơ Mới 1932-1945, nói như Hoài Thanh, sẽ trở nên một hiện tượng "lạc loài”. ~ Thơ ca Tản Đà Từ thập niên 1920 cho đến nửa đầu thập niên 1930, văn đàn Việt Nam. không có một nhà thơ nào nỗi tiếng và được yêu mến như Tản Đà.
Kế cả khi phong trào Thơ mới xây ra, thì Tân Đà, sau khi bị "phái thơ mới” đã kích kịch liệt lại được chính những người đã kích mời về ngồi chiếu trên. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã đặt bài tưởng niệm Tân Đà lên những trang u, với lời lề tôn kính. Thơ cũng là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phong phú của. Ông sáng tác rất nhiều thơ, nhiều thể loại.
Thơ ông hay diễn tả cảm. giác say sưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi \g, những mối tình với người tri kỷ xa xôi, song cũng có những bải mang tính ẩn dụ, gần gũi đời sống hiện thực. Tan Đà luôn thể hiện một tinh thần, một thái độ lao động nghiêm túc, không mệt môi trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Điều này được thể hiện rất rõ không chỉ ở số lượng tác phẩm đồ sộ, mà còn thể hiện trên từng tác phẩm thi ca của ông.
Năm 1916 ông xuất bản cuốn Khdi tình con 1. tác phẩm mở đầu này là một loạt các tác phẩm lần lượt ra đời như: Giác mộng. “Tân Đà chưa phải là một nhà thơ mới như các nhà thơ mới lớp sau ông Nhưng rõ rằng, ông là nhà thơ đã có tư tưởng cách tân, có nhiều tìm tỏi, sáng tạo và mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ: Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai tiễn oanh đưa luỗng ngậm ngùi Nita năm tiên cảnh, 2 Một phút trần ai Cửa động. Đầu non Đường lỗi cũ 'Nghìn năm thơ thần bóng trăng chơi (Tống biệt) Trong thời buổi mà lối thơ niêm luật gò bó đang còn phổ biến, thì lối thơ như bài Tổng biệt này của Tản Đà quả thật là mới, rất mới! Chính cái sự mạnh dạn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ ấy đã tạo nên “một giọng phóng.
túng riêng” trong phong cách thơ Tân Đà Loại thơ phóng túng của Tản Đà còn nhiễu, đọc những bài như thế, có thể n tưởng đến giọng thơ Nguyễn Công Trứ, Tú Xương. Song cũng đúng như các tác giả ƒ nhân Việt Nam đã nhận xét: “Cai dáng điệu ngang tang chúng tôi thường thấy ở các nhà thơ xưa, ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn”. Cái phóng túng, cái ngang ting ấy chính cũng là cái ngông. mà Tân Đà đã tự nhận.
Nhưng bao trùm và sâu lắng trong hồn thơ Tan Da vẫn là cái đi 'buổn vẫn vơ, cái nỗi sầu man mác và cái tình bâng khuâng, những yếu tố muôn đời của chủ nghĩa lãng mạn, nhưng mang sắc thái riêng của Tản Đà. Đó là "chủ nghĩa lãng mạn Tân Đà”. Mùa thủ là mùa gợi buồn cho thỉ tứ và cũng là mùa muôn thuở của thì ca lăng mạn. Nhưng thơ thu của Tản Đà không phải chỉ có buồn mã còn có nhớ, một nỗi buồn nhớ vơ vẫn, bâng khuâng Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi, “Trần giới em nay chán nửa rồi 2 Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cảnh đa xin chị nhắc lên chơi (Muốn làm thằng Cuội) Trong thực tế, Tản Đà không phải là con người thoát ly, nhắm mắt trước thời cuộc.
Thơ ông cũng không hiểm những bài hướng vào hiện thực xã hội, bộc lộ những tình cảm yêu nước, thương nồi: "Này những ai, này những ai, Ai có nghe rằng việc thủy tai, Tinh Bac, Đông cùng tỉnh Thái, Rudng ngập nhà chìm thây chết trôi. (Khuyên người giúp dân lự) Là một người dân mắt nước, lo cho vận mệnh của tổ quốc, lại chịu. cảnh hưởng sâu s của những phong trào yêu nước những năm đầu thế kỷ, Tản Đà có những vần thơ cảm khái, nói đến các anh hùng dân tộc, nói đến đân vong quốc, nói đến nòi giống Tiên Rồng. thể hiện tư tưởng yêu nước.
Tiêu biểu cho dòng thơ này của Tản Đà là bài Thể non nước, một bài thơ đã đi sâu vào lòng người và được lưu truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Tân Đà là nhà thơ của xứ Đoài như ông đã tự khẳng định: "Tôi là người gì? ở phía Nam Đông Á, ở phía bắc Việt Nam, ở phía tây Bắc Kỳ, một người làm văn ở tỉnh Sơn Tây vậy!” (Giác mộng lớn). Nhưng vượt khỏi "Đà Giang, Tân Lĩnh nước non quê”, Tản Đã còn là nhà thơ, nhà văn, nhà báo tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đúng như Nguyễn Tuân đã nhận xét: *Trong chốn Tao Đàn, Tản Đà xứng đáng ngôi chủ súy; trong Hội tài tình, Tản Đà xứng đáng ngôi Hội chủ; mà làng văn làng báo 23 xứ này ai dám ngồi chung một chiếu với Tản Đà?”.
Và Tản Đà cũng hoàn. toàn xứng đáng như đánh giá của nhà thơ Xuân Diệu: “Tan Đà là người thì sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”. Ngoài thơ tự sáng tác, thơ dịch của Tan Đà cũng được đánh giá rất cao. Những bài thơ lục bát địch từ thơ Đường của Tân Đà thường được cho là hay hơn các bản dịch khác, có bài hay hơn cả nguyên tác, vì sự tự nhiên, không bị gò bó mà chuyển tải cả tâm hồn mình vào đó.
- Văn xudi Tân Đà 'Văn xuôi của Tản Đà không được thành công như văn vẫn của ông, vi vay khi nghiên cứu về Tản Đà các nhà nghiên cứu thường ít chú ý đến văn xuôi, mà tập trung chủ yếu vào thơ ca. Tuy nhiên cần phải thấy rằng, chính Tản Đà là một trong số ít những người tiên phong trong việc sử dụng. chữ quốc ngữ để sáng tác văn xuôi Các tác phẩm tiêu biểu của Tản Đà gồm: Giấc mộng con 1 (tiểu thuyết, 1917), Thể non nước (truyện ngắn, 1920), Chuyện thế gian 1 và II (1922-1924), Giắc mộng lớn (nhật ký, 1932), Giắc mộng con tập II (du kí, 1932), Trần ai trí ký (truyện ngắn, 1932), Liệt nữ truyện (1938), Kiếp phong trần (truyện ngắn) và một số tác phẩm khác. Tân Đà là người học chữ Hán, theo lối học cử nghiệp, vốn quen.
thuộc với văn sách, với phú, với lối văn tứ lục, với thơ luật Đường.