CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG NHO GIÁO TRONG TIỀN TRÌNH VẬN ĐỌN: CỦA TRUYỆN THƠ NÔM BÁC HỌC 1.1, NHỮNG NỘI DỤNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO. Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, là hệ tư tướng chính thống của giai cấp phong kiến Trung Hoa. Tư tưởng Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (thé ky thứ X ~ VII tr. Đến thời Xuân Thu, Không Tử đã sưu tập, chỉnh lý thành học thuyết tương đối có hệ thống.
Trải qua hơn 2500 năm tổn tại và phát triển, nội dung của Nho giáo đã có ảnh hưởng ở. nhiều nước phương Đông, trong đồ có Việt Nam. Sự ảnh hưởng này được thé hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức trước đây cũng như hiện nay. “Theo Không Tử, vẫn đề trung tâm của Nho giáo là con người, tư tưởng, của con người.
Con người thiện hay ác, tốt hay xấu bên cạnh bản tính vốn có. còn do hoàn cảnh tác động. Theo Nho giáo quan niệm, tính thiện của con người gồm năm đức tính (Ngữ zhường): Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín; để thực hiện được năm đức tính trên, con người cẳn phải có Ngũ luân (Năm mối quan "ệ): Vua — Tôi, Cha ~ Con, Chồng — Vợ, Anh Em, Bạn bè và Tam cương. (Ba méi quan hệ của xã hội): Vua ~ Tôi, Cha ~ Con, Chồng~ Vợ.
Theo Nho giáo, sở dĩ có kể ác, người thiện là do "Khí bẩm thự mã thank”, tte là do con người bị tác động, bị ảnh hưởng những thói hư, tật xấu ở đời, bị môi trường. Vì vây, Nho giáo hướng đến giáo huấn con người “Hữu giáo. ¥6 Jogi”, quan tim đến đạo làm người, rèn luyện đạo đức, hướng thiện cho con người. Đây được xem là điểm khác biệt, điểm tiến bộ của Nho giáo so với các tôn giáo khác, nhất là vấn đề về con người, giáo huấn đạo lý, hướng con người tìm đến những giá trị chân, thiện, mỹ của cuộc sống.
Nếu như Phật giáo cho rằng "đời lả bể khổ” nên hướng con người tìm đến sự giải thoát, Lão giáo cũng yếm thế, bi quan nên cần “vồ vi tich mich” thì Nho giáo lại coi trọng đến các môi quan hệ đạo đức xã hội. Con người sống trên cuộc đời này hãy lo việc của chính mình, chuyện lúc sống lo chưa hết, lo gì đến việc sau khi chết. Chính vì quan niệm này mà Nho giáo luôn được mọi người ưa chuộng, tôn trọng và giữ vị trí độc tôn trong thời gian dài của lịch sử đân tộc. 'Việc rèn luyện đạo đức, giáo dục, cải biến con người để họ trở thành người tốt, người có ích cho xã hội là vấn để luôn được Nho giáo chú trọng.
Tuy nhiên, đạo làm người theo quan niệm Nho học là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Nho học là hệ tư tưởng phục vụ giai cắp phong kiến, nhưng. những vấn đề về đạo đức trong Nho học rất tiên tiễn, có nhiều điểm tích cực. Một trong những vấn đề sáng tỏ nhất đó là quan niệm về người quân tử, đó là con người cần phải hội tụ các nhân t6 của tâm và tầm, nghĩa hiệp, cao thượng, Đây được xem là điểm sáng để kẻ sĩ lấy đó làm mục đích rèn luyện, phần đấu vươn đến hoàn thiện mình, trở thành những con người có ích cho xã hội.
Là một hệ thống tư tưởng rộng lớn về mặt đạo đức và giáo huắn, tồn tại và phát triển trong thời gian dài của lịch sử; những quan điểm, tư tưởng của Nho giáo luôn là bài học lớn để nghiên cứu, soi xét trên nhiều bình diện của. đời sống xã hội. Mỗi phạm trù tư tưởng là một luận điểm lớn về các chuẩn mực, về con người, về đạo đức. cần được soi chiếu một cách cụ thể, rõ ràng.
để trở thành những hệ quy chiếu ứng dụng trong thực tế. Thiên mệnh Nho giáo đã tin có trời làm chủ tế cả vũ trụ th tắt à nhận có cái ý chí tắt mạnh mẽ để khiến sự biển hóa trong thể gian theo lẽ thường. Cái ý chí ấy chính là Thiên mệnh. Khổng Tử quan niệm về Trời hay Thượng để khác với quan niệm của nhiều người.
Trời hay Thượng để chỉ là cái lý vô hình, rất linh diệu, cương kiện, mà khi đã định sự biến động như thể nào đó thì không thể cưỡng lại được. Các quan niệm của nhiễ người về Trời hay Thượng để là đáng có hình dáng, tình cảm. Khổng Tử quan niệm, những công việc ở đời thành công hay thất bại, hưng thịnh hay suy vong đều do ở Thiên mệnh cả. Mọi việc muốn thí hành được cũng do mệnh Trời, mà không thi hành được cũng do mệnh Trời "Đạo chỉ tương hành dã dư, mệnh da; dao chỉ tương phê dã dư, mệnh đã".
Người quân tử cứ an tâm làm những điều tốt, điều lành thì thế nảo cũng có được Mệnh trời như ý muốn. Theo Nho giáo, Trời là đắng tối cao, đáng toàn năng, có nhân cách, có. ý chí, trời chỉ phối vạn vật. Tuy ở xa, nhưng việc soi xét, phân minh, thưởng.
phạt rất nghiêm và công minh. Khi vua chúa làm những điều không tốt thì trời cho các trương triệu để cảnh tính, báo hiệu trước; nếu làm điều nguy hại hơn có thể bị đại hạn, bị trừng trị. Không Tử đã nói “sống chắt có mệnh, giàu sang tại Trời", tức là con người sống chết có mạng, giàu sang phú quý do trời định, chúng ta không thể chống lại ý trời được, không thể làm điều ngược lại. Trời chỉ phối con người bằng mệnh trời, mỗi người sinh ra phải theo.
vòng luân hoàn: sinh ra, lớn lên, già, chết. Mọi việc lớn nhỏ đều do trời định, con người phải thuận theo lẽ thường. Tư tưởng này tồn tại dai dẳng như một ý: thức hệ trong nhận thức của con người, xem nó như định mệnh, họ bất lực trước số phận và ra sức duy trì nó. Khi gặp bắt lợi trong cuộc sống, người dân tin tưởng cầu mong vào sự ban phát của trời.
Nho giáo cho rằng trời là chúa tễ của vũ trụ 1. Chính danh Chính danh (danh nghĩ là tên gọi, danh phận, địa vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại cho đúng tên gọi và danh phận). Do đó, Chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thi giữ đúng vị trí và danh phận của mình. Không giành vị trí của người khác, không lần vượt và làm rối loạn.
Không Tử cho rằng, nguyên nhân hỗn loạn ở thời Xuân Thu là do thiên tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm (không làm đúng danh) để quyền lợi vào tay chư hầu; chư hẳu không làm đúng danh nên si da lin at, Vi vay, dé xã hội ổn định thì mọi người cần làm đúng danh phận của mình. Theo ông, *Danh không chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thi việc chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hưng vượng, lễ nhạc không hưng. vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử: trí ra sao” (danh bắt chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bắt thuận tắc sự bất thành, sự bắt thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bắt hưng tắc hình phạt bắt trúng, hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thổ thủ túc). Riêng đi với người cầm.
quyền Vua - Thiên tử, được thay trời cai trị thì càng phải làm đúng danh của mình, như vậy mọi người mới noi theo. Đặc biệt, trong việc chính sự (việc nước), điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại Chính danh, phải xác định vị tri, vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họ hành động cho đúng. Khổng Tử cho rằng, không ở chức vị ấy thì không được bàn việc của. chức vị đó, không được hưởng quyền lợi, bồng lộc của chức vị ấy.
Mục đích của Chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định trật tự xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của Thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp. Chính danh không chỉ là nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo, mà còn mang ý nghĩa đạo đức, một yêu cầu về mặt đạo đức của con người. “Chúng ta biết rằng, một trong những phạm trù đạo đức của con người đó là lương tâm, trách nhiệm. Nếu xét theo nghĩa này, thì một người làm tròn nghĩa vụ và bổn phận của mình tức là người đó có đạo đức.
`Ý nghĩa tích cực của tư tưởng Chính danh, là làm cho con người ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách rð ràng trong các mỗi quan hệ. Con người tồn tại trong vô vàn các quan hệ xã hội đan xen, ở mỗi mối quan hệ đó con người có nghĩa vụ nhất định phải thực hiện. Điều này là cần thiết ở mọi chế độ xã hội, ở mọi thời đại. Tư tưởng Chính danh yêu cầu con người thực hiện một cách đúng mức nghĩa vụ của bản thân trước cộng đồng, và xã hội trong khuôn khổ danh phận, góp phần vào duy trì trật tự xã hội.
Tư tưởng này còn kim him ty do của nhân cách tới mức không chấp nhận bắt kỳ sáng kiến nào của con người, làm cho con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương *uật nhỉ bắt tác” (chỉ làm theo mã không sáng tác gì thêm). Tư tưởng Chính danh đã quá đề cao danh phận, làm cho con người luôn có tư tưởng hám danh, chạy theo danh, theo chức đến mức nhiễu người vì hám danh quên phận mà quên cả luân thường đạo lý. Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhắn mạnh đức này hay đức khác của con người nhưng nói chung, các nhà Nho đều cho rằng con người cần phải có những phẩm chất đạo đức cơ bản: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhân và Lễ Nhân là phạm trù luân lý đạo đức căn bản nhất mang nhiều nghĩa khác nhau.
Theo Không Từ, tất cả những gì thuộc về tiên nghiệm đều là cái trời phú cho con người, nó là hạt nhân của hệ thống trí thức và đạo đức của con người. Chữ Nhân trong tiếng Hán bao gồm bộ “nhá” đứng và chữ “nhị” hàm. nghĩa chỉ bản chất, đức tính là nhân ái, nhân đức của con người; nó khác với chữ Nhân với ý nghĩa là con người, nhân hình. Có lúc Không Từ giải thích chữ Nhân một cách trừu tượng, nhưng cũng có lúc ông nói về Nhân rất cụ thể.
Tuy nhiên, dù hiểu theo nghĩa trừu tượng hay cụ thể, thì Nhân cũng là đạo lâm người va do đó Nhân chính là cái đích của sự tu thân sửa mình của mỗi người trong xã hội Có thể nói, Nhân là phạm trù xuất phát mang tính nền tảng của Khổng.