Chương 1: Khái lược vẻ lí thuyết liên văn bản và văn chương Hồ Anh Thái Chương 2: Liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ phương diện nội dụng. Chương 3: Liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ phương diện. hình thức CHUONG 1 KHAI LUQC VE Li THUYET LIEN VAN BAN VA VAN CHUONG HO ANH THAL 1. KHAI LUQC VE LIEN VAN BAN, 1.1, Quan nigm vé liên văn bản.
Liên văn bản (tiếng Pháp: intertextualité; tiéng Anh: intertextuality) là một thuật ngữ mới mẻ của văn học hậu hiện đại, không phải đến sự định danh của Julia Kristeva (Bulgaria) thì thuật ngữ liên văn bản mới trở nên thông dụng, mà trước đó mầm móng của thuật ngữ này đã manh nha trong quá trình nghiên cứu học thuật của những nhà lí luận văn học xuất sắc của trường phái hình thức luận. Chính vì thế, trong luận văn này, khi nghiên cứu về liên văn bản, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát những quan niệm của ác nhà hình thức luận và cấu trúc luận. ‘au thé ki XX, trường phái hình thức luận lần đầu tiên xuất hiện ở Nga với những đại diện tiêu biểu như Boris Eikhenbaum, louri Tynianov, Roman Jakobson, Viktor Chklovski và Boris Tomachevski. Đây là trường phái nghiên cứu lí luận, phê bình văn học có nhiều thành tựu và ảnh hưởng sâu sắc đến các tư tưởng học thuật trên thể giới.
Trong quan niệm của các nhà hình thức luận, liên văn ban don gidn d6 cl là sự cảm thụ tác phẩm, không thể đóng khung các văn bản (tác phẩm) để trí giác, mà phải đặt tác phẩm nghệ thuật trong mồi quan hệ với các tác phẩm khác.Eikhenbaum với công trình ¿í thuyết vẻ phương pháp hình thức đã quan niệm về liên văn bản trong mối liên hệ với tác phẩm nghệ thuật: “7ác phim nghệ thuật không phải được trí thức như một sự kiện cô lập, mà hình thức của nó được cảm nhận trong mỗi quan hệ với những tác phẩm khác chứ. không phải ở bản thân nó" [42, tr. Chính vì thể để trì giác (hiểu) được tác phẩm thì hành động đọc có ý nghĩa rất quan trọng đối với văn bản nghệ thuật, không có một văn bản nào được đọc một cách biệt lập khỏi kinh nghiệm của người đọc về các văn bản khác, cảm nhận ở trường độ nào để thấy sự giao thoa giữa các tác phẩm với nhau, liên kết những cái xa nhau trong văn bản để thấy sự đa dạng của văn bản nghệ thuật. Cùng với quan niệm.Eikhenbaum, nhà lí luận V.Shklovski khẳng định *ác phẩm nghệ thuật được trì giác trong mắt liên hệ với những tác phẩm nghệ thuật khác” {42, tr.
Trên trường liên tưởng đó, mọi tác phẩm nghệ thuật được đặt trong những mối liên hệ đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau, không có một tác phẩm. nảo tồn tại một cách độc lập, riêng biệt mà không có quan hệ với các tác phẩm nghệ thuật khác. Nói cách khác, khi tiếp nhận và lĩnh hội một tác phẩm. nghệ thuật cụ thể thì người đọc phải dựa trên nền cái phông của những tác phẩm nghệ thuật khác và nhờ vào trí tưởng tượng, hiệu lực liên tưởng nơi độc giả do tác phẩm gợi lên thì dấu ấn liên văn bản sẽ mở ra một chân trời tiếp nhân mới Mặt khác, R.Jakobson khẳng định “đối “ượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là tính văn học (literatuznos), tức là làm cho một tác phẩm nào đỗ trở thành trở thành tác phẩm văn học” |42, tr.83], từ quan niệm về đối tượng khoa học văn học của R.Jakobson, có thể hiểu mọi tác phẩm (văn bản) nghệ thuật đều trở thành tác phẩm văn học.
Lý thuyết về liên văn bản không chỉ dừng lại ở những quan niệm của một số nhà hình thức, M.Bakhtin tiếp tục phát triển con đường mà trường phái hình thức Nga đã khai phá, tuy nhiên ông là người có công rất lớn cho việc lập thuyết, người đặt nền móng cho lí thuyết về liên văn bản.Bakhtin là người đầu tiên nêu ra một lí thuyết đích thực về tính đa trị liên văn bản. Với Mikhail Bakhtin, ông quan niệm: “mọi văn bản đều nằm ở điểm nối kết của nhiễu văn bản khác nhau và nó cùng lúc là sự đọc lại, sự nhắn mạnh, sự cô đúc hóa, sự. dich chuyển và chiều sâu của những văn bản đó” [30]. Tựu trung lại, trong văn học luôn có mối quan hệ đối thoại (dialogism), tính đối thoại ấy biểu hiện ở nhiều cấp độ và khá phức tạp, đối thoại ở nhiều loại hình nghệ thuật, các hình thái triết mỹ.
Chỉnh vì thế, tính thoại trong văn học “biểu hiện thiên “hình vạn trạng, nhưng trong mỗi loại hình văn học khác nhau nó có mặt ở. mức độ khác nhau [30], Theo quan niệm của Bakhin, trong tiểu thuyết, tính đối thoại biểu hiện rất nhiều, làm cho tính liên văn bản trở nên đa dạng. cho rằng “sự phản ứng đối với một phong cách văn học có trước của một bộ phận trong phong cách mới, đấy có thể là cuộc tranh luận nội tại, là sự phản phong cách hóa ngắm ngằm trước một phong cách xa lạ và thưởng đi kèm với việc nhại nó một cách công nhiên” [13, tr.471] 'Bản chất xã hội cũng như con người muốn tồn tại thì phải giao tiếp, mặt khác, con người là chủ thể của văn học, vì thé, bản chất văn học luôn mang. tính đối thoại và nếu một văn bản văn học không mang tính đối thoại thì sẽ không tổn tại, nền văn học đó sẽ tự hủy diệt.
Trong quan niệm về tính đối thoại, A.Beghiasvili (Liên Xô) nhắn manh ring “khi (ác phẩm ra đời và đi vào công chúng thì cuộc hành trình của nó lại càng mang tính chất đối thoại rõ rệt” (.), “một tác phẩm không có và không giữ được tính chất đối thoại, không có và không duy trì được tính chắt giao tiếp” [43, tr 217]. Tính chắt đối thoại của tác phẩm được mở rộng trên nhiều bình diện, theo A. là sự "đối thoại liên tẳng lớp, liên thế hệ" |40, tr.217] hoặc là “liên cá nhân” [40, tr216] ìừ những đặc tính đối thoại của liên văn bản, sự cảm nhận tác phẩm văn học không có một biên định rỡ ràng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cũng từ đó mà tính đối thoại của tác phẩm được biểu hiện ở nhiều. cấp độ khác nhau, có những tác phẩm chỉ đối thoại ở cắp độ chỉ tiết, mô tip, kết cấu nhưng cũng có những tác phẩm đối thoại ở cấp độ tổng thể.
văn học tổn tại xuyên thời gian, mở rộng không gian giao tiếp đến vô cùng. nên ý nghĩa không có định, luôn biển động và trong hệ thông đó, văn bản văn. học có quan hệ với các văn bản văn học khác, thậm chí văn bản văn học còn mở rộng biên độ giao tiếp ra ngoài bản thân nó, vi thé “mdi van ban trong mot khuôn khổ thể loại nhất định sẽ có những liên hệ mật thiết đến những thể loại khác trước đó" [S6] MBB Khravchenko - nhà lí luận văn học xuất sắc của Nga ở thể kỉ XX trong công trình Li thuyết vẻ các tằng trong tác phẩm nghệ thuật, đã chỉ ra trong tác phẩm nghệ thuật có đến bảy tẳng, đó là “bình diện trước và các bình diện khác nhau của sáng tác nghệ thuật” [31, tr. Còn trong tác phẩm Nguyên Cáo, Geneté (Pháp) chỉ ra mỗi quan hệ trong văn học chính là tính xuyên văn bản (transtextualit€) - đô là “sự hiện điện của một văn bản trong một văn bản khác.
Theo quan niệm của Geneté, ông liệt kê ra các mối liên hệ giữa một văn bản với các văn bản khác, do đó, liên văn bản biểu. hiện ở nhiều cắp độ như cận văn bản (paratext), siều văn bản (supertext), kiến trúc văn bản (architext), khuếch trương văn bản (hypertex). Cũng từ đó, Genette li giải thêm con đường dẫn đến liên văn bản: “tử cấu trúc văn bản dẫn đến liên văn bản, nghĩa là tắt cả mọi thứ đặt nó trong mỗi quan hệ với những văn bản khác” [28]. Các nhà hình thức luận quan niệm liên văn bản chính là mối quan hệ giữa các “chuỗi”, theo đó “nguồn gốc của các tác phẩm riêng rẽ là hiện tượng nằm ở bên ngoài văn học và liên quan đến các mỗi quan hệ giữa các chuỗi văn học và chuỗi phí văn học” [13, tr.
Khi nghiên cứu về loại văn nhại, Tynianov cho ring “khdng thể hiểu được đầy đủ một văn bản nào đó của một nhà văn (Dostoievski) nếu không lưu ý đến văn bản của một nhà văn khác trước dé (Gogol)” (13, tr. Tynianov quan niệm liên văn bản không chỉ biểu hiện ở cấp độ tổng thể mà còn biểu hiện ở cấp độ từ vựng. công trình Vẻ sự tiến triển của văn chương, ông viết “từ vựng của một tác phẩm văn học cùng lúc đi vào quan hệ tương tác, một mặt, với từ vựng văn chương và từ vựng được xem xét trong tổng thể của nó, mặt khác, với các yếu. 16 Khác của tắc phẩm” [42, 175], Nhìn chung, với các nhà hình thức Nga, các thể loại vận động trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống mà nó thuộc vào, là một biểu hiện cụ thể của sự.
tiến triển văn chương, sự vận động, tương tác thể loại là động lực của lịch sử văn học. Mặt khác, kiến trúc văn bản không phải là những “phạm trừ riêng. biệt và thuần túy” mà là “sự va chạm, tương tác và chẳng lấn lên nhau” giữa các thể loại (Geneté). Suy rộng ra thì văn bản văn học này có quan hệ với văn 'bản văn học khác hoặc các hình thức thẳm mỹ, xã hội mà không có lằn ranh.
Chính vì văn học xám zhực vào các thể loại khác làm cho nghệ thuật văn chương ngày càng phát triển. Quan niệm của một số nhà hình thức luận. gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu văn chương về mặt nghệ thuật (như là thủ pháp) về liên văn bản. Tuy nhiên, về cơ bản, các nhà hình thức luận "vẫn đồng khung trong khuôn khổ tư tướng cầu trúc luận mà nó có vai trỏ như một người cha sinh thành” [64, trAT] Bên cạnh việc nghiên cứu tác phẩm (văn bản) văn học theo phương pháp.
hình thức thì việc nghiên cứu tác phẩm văn học theo phương pháp cấu trúc được các học giả khá quan tâm. Trường phái cấu trúc luận vốn thịnh hành và. có sự phát triển đột biến vào cuối những năm 1960, với tên gọi mới là hậu trúc luận, hoặc giải cấu trúc. Ở giai đoạn này, nền nghiên cứu lí luận phê bình.
văn học của trường phái này xuất hiện nhiều lý thuyết gia xuất sắc đặt nền móng cho học thuật về liên văn bản như R. Derrida, LH Miller, H. C6 thé khẳng định, đây chính là trường phái có nhiều đóng góp. trong việc hình thành hệ thống quan điểm vẻ liên văn bản, mà người có công.