CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM NHẠI VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA YEU TO NHAL TRONG VAN XUOI VIET NAM DUONG DAT 1. KHALNIEM NHAL VA GIEU NHẠI TRONG VĂN HỌC Ahại là thủ pháp quen thuộc được sử dụng trong van hoc va trong đời sống. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Một thể văn châm biểm dùng sự bắt chước để chế giễu một tác phẩm hoặc cả một trảo lưu nghệ thuật. Phương, tiện chủ yếu của nhại là bắt chước phong cách.
Hai kiểu nhại chủ yếu (đôi khi tách thành những thể tài riêng) là: kiểu khôi hài trong đó đối tượng thấp được. trình bày bằng một phong cách cao; và kiểu chế nhạo trong đó đối tượng cao. được trình bày bằng phong cách thấp. Sự chế nhạo có thể nhằm vào phong cách, có thể nhằm vào đề tài, có thể nhằm vào những thủ pháp thi ca đã trở 'thành khuôn sáo, lỗi thời hoặc những hiện tượng đời sống vốn dung tục không.
xứng với thì ca. Có thể có lỗi nhại một thi pháp, một tắc giả, một thể loại, một thé gidi quan. 225] Theo 7ừ điển văn học: “Nhai là sự bát chước một cách hài hước đối với một hay một nhóm tác phẩm nghệ thuật. Nhại thường được xây dựng trên sự.
không tương ứng giữa bình diện văn phong và bình điện Š tải của hình thức nghệ thuật. Có thể nhại thì pháp một tác phẩm, mộtt c giả, một thể loại. một nhãn quan tư tưởng. Những mẫu mực đầu tiên của nhại đã có từ văn học cổ đại Hy Lạp [.
] đều đi kèm với sự giễu nhại ` [5, tr. Nhại có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp paroidia, có nghĩa là “một bài hát được hát cùng lúc với bai hát khác”. Trong phạm vi thuần túy văn học, nhai có thể nhằm giểu cợt hoặc là thức phê bình châm biếm bằng cách bắt chước phong cách và bút pháp của một nhà văn hoặc nhóm nhà văn đặc biệt để nhắn mạnh đến sự non yếu của nhà văn ấy hoặc những quy ước bị lạm ‘dung của trường phái Ấy. Xét theo quan niệm về kiểu nhại giữa tác phẩm này tác phẩm khác như trên, tức là bao gồm hầu hết các yếu làm nên chỉnh.
thể tác phẩm như hình tượng nhân vật, hệ thống chỉ tiết, ngôn từ nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật. “nhại khác với với trò hài hước (burlesque) ở độ sâu. từ sự xâm nhập kỹ thuật của nó vào đối tượng nhại và bởi độ sâu từ sự bôi bác. được dùng để xử lý những vấn để được để cao trong bút pháp tầm thường, nhại thật sự bóc trằn một cách tàn nhẫn những mánh lới của bút pháp lẫn tư tưởng của những nạn nhân của nó, nhưng nhại không thể được thực hiện nếu.
không có sự đánh giá thấu đáo tác phẩm mà nó chế giễu” [5, tr. Trong văn học còn có những kiểu nhại khác như nhại chính các đối tượng phản ánh của văn học. Kiểu nhại này đa dạng cả về đối tượng nhại và cấp độ nhại. Đối tượng của nó bao gồm, các vấn đề về thẻ chế chính trị, văn hoá, khoa học, văn chương, nghệ thuật, đạo đức lối sống, thói hư tật xấu của con người ở mọi tằng lớp, địa vị xã hội.
Mức độ của nhại có thể đi từ khái cquát đến chỉ tiết tuy theo mục đích của chủ thể sử dụng nhại trong tác phim của mình. Đặc điểm dễ nhận thấy nhất ở nhại là sự mô phỏng, đùa theo, bắt chước đối tượng nhại hoặc một đặc điểm nào đó của đối tượng nhai dé lam bật nên cái đáng cười, đáng phê phán, chế giễu. Nhại gắn với bắt chước, mô. phỏng âm thanh của đối tượng nhại (một bài hát, điệu hát) nhưng nhại còn gắn với bắt chước, mô phỏng cả dáng hình, cử chỉ, điệu bộ, phong cách của đối tượng là con người.
Giéu nhại là một khái niệm cho đến nay còn tồn tại rất nhiều cách kiến giải. Trong nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam thì giểu thường đi liền với nhại và trở thành một thuật ngữ kép là giểu nhại. Trong Từ điển Tiếng. Việt thông dụng, từ này được định nghĩa như sau: “Giễu là nói ra, đưa ra để đùa bỡn, châm chọc hoặc đả kích” [16, tr.
299], “Nhại là bắt chước tiếng nói, điệu bộ của người khác để châm chọc, giễu cot” [16, tr. Như vậy, dù nhìn từ góc cạnh nào thì thuật ngữ giểu nại cũng có hai đặc điểm chính: nhại và giễu, tức bắt chước và châm biếm. Qua tìm hiểu thuật ngữ giểu nhại cả trên lý luận và thực tiễn, chúng tôi nhận thấy trong giểu nhại luôn có sự bắt chước, mô phỏng các đặc điểm của đối tượng nhằm tạo ra sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, bên trong và bên ngoài. hướng người đọc đến nhận thức cái khiếm khuyết, cái lỗi thời, lạc hậu, phản tiến bộ của đời sống xã hội và trong.
bản thân con người để cùng nhau nhận thức lại, hoàn thiện bản thân và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Giểu nhại có quan hệ mật thiết với một số phạm trù và khái niệm nh: trảo phúng, trảo lộng, trào tiếu. So với các khái niệm này, sự. khác biệt chủ yếu của giểu nhại là ở độ sâu của sự xâm nhập vào đối tượng.
giểu nhại, tức là sự giễu nhại có thể có ở tất cả các cấp độ trong chinh thể tác phẩm từ cảm hứng chủ đạo, nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật (kết cấu, hình tượng, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ) kể cá việc tạo nên tính đa trị, đa diện cho tác phẩm. Giễu nhại chủ yếu quan tâm đến việc vạch ra cái xấu, cái lố bịch, khiếm khuyết để giúp người ta nhận biết, sửa chữa và hoàn thiện. 'Cũng có khi, giều nhại được dùng như một thủ pháp gây cười tạo sự hài hước cho tác phẩm. Có thể nói, giễu nhại là một khái niệm rất rộng trong văn học.
Nó hiện diện trong tác phẩm nhưng rất khó nắm bắt. Đó là tất cả những y( đã thấm thấu trong tác phẩm. Vậy nên, để hiểu được giá trị của giễu nhại và rộng hon là ý nghĩa tác phẩm là điều không hề đơn giản. Giễu nhại thường dòi hỏi ở người đọc và cả người sáng tác một tầm trí tuệ cao, một nền tảng kiến thức.
văn hoá đủ rộng và sâu sắc mới có cơ sở đẻ suy luận, liên hệ, khái quát nên những giá trị của nó. Từ đặc điểm này, văn học nhại, tự nó đã phân hoá được độc giá: "điểm hấp dẫn của văn học nhại so với các dạng tác phẩm khác là nó đáp ứng được cả hai dạng độc giá: bình dân va bác học. Với đối tượng độc giả bình dân, tác phẩm nhại chủ yếu được tiếp nhận ở góc độ giải trí, gây cười; còn đối với đối tượng độc giả là bác học, thì đẳng sau tiếng cười ấy, người đọc có thể khai thác sự kiện, hình tượng ở nhiều cấp độ nghĩa khác nhau” [7, tr. Bakhtin: Giu nhai là "nói bằng giọng của kẻ khác” nhưng đưa vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập hản với khuynh hướng.
nghĩa của lời người đó. Giọng thứ hai, sau khi chuyển vào trong lời nói của kê khác thì xung đột thù địch với chủ nhân của nó và "buộc nó phải phục vụ cho mục đích đối lập của mình”. Bằng lời van giéu nhại, các tác giả đã làm đảo. lộn cái gì gọi là nghiêm túc, bóc cái vỏ hào nhoáng để trần trụi ra cái giả dối, cái lỗ bịch, cái đáng cười.
Đó cũng chính là cách giải thiêng, thay thé trong văn học. Nhại là một thủ pháp được sử dụng lâu đời, rộng rãi, được xem như là một phong cách, hơn nữa còn tồn tại như một chủ đẻ phụ trong một tác phẩm. cụ thể và như một thể loại phụ trong văn học. Bằng hình thức sáng tạo, các nhà văn đã dùng giễu nhại làm vũ khí vô cùng lợi hại để có thể đương đầu với mọi dạng quyền năng.
Không phải là độc quyền của một trào lưu hay giai đoạn văn học nào, giểu nhại xuất hiện trong mỗi giai đoạn bước ngoặt như. một dấu hiệu tích cực đánh dấu thái độ tự ý thức, tự nhìn lại và dấu hiệu của. sư "giải thiêng” những gì đang được xem là sùng tin, đang được xem là thời thượng. Và nó thực hiện trên nhiều cấp độ với nhiều đối tượng cụ thẻ khác.
nhau nên đã mang đến cho văn học những giá trị nhất định mà chúng ta khó. có thể phủ nhận được. “Tìm hiểu và nhìn nhận về bản chất mối quan hệ giữa nhại và giéu nhai, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu đã có những kiến giải thấu đáo. (Gene thì cả hai hình thức giễu nhai (parody) va nhai (pastiche) déu thude phương thức hai hude (playful), nhưng giễu nhại thuộc quan hệ biển đổi, còn nhại thuộc quan hệ bắt chước.
Nhà nghiên cứu người Mỹ, Fredrik Jameson lại nhìn nhận: giễu nhại đã bị tước đoạt mắt đi sự hài hước và ý đồ nhạo báng, nên ông gọi giểu nhại la pastiche. Còn một số lý thuyết gia hậu hiện đại thì xem pastiche (nhại) cũng là “một dạng giễu nhại đặc biệt”, * như sự tự giễu nhại”. Có thể nói, hầu hết các nhà nghiên cứu, dù nhìn ở dưới góc độ nào thì giểu nhại và nhại đều có mối sự gắn bó mật thiết với nhau - giễu thường đi liền với nhại để trở thành thuật ngữ kép là giễu nhại 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH NHẠI VÀ GIÊU NHẠI TRONG VĂN XUÔI.
VIET NAM DUONG DAI 1. Sự đổi mới của xã hội Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một trang mới trong lịch sử đất nước. Bước ra từ cuộc chiến tranh, công cuộc xây dựng đất nước của xã hội 'Việt Nam ngày càng vận động và chuyển biến mạnh mẽ. Những đòi hỏi từ sự phát triển của nên kinh tế thị trường, sự hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu.
văn hóa trong khu vực và trên thế giới đã tạo nên những động lực phát triển mới, đồng thời cũng làm nảy sinh những quan hệ xã hội mới, trong đó không loại trừ sự suy thoái về đạo đức lối sống, sự tha hóa về nhân cách của con người. Cuộc sống mới có nhiều giá trị tốt đẹp song cũng đã làm nảy sinh và phát triển tâm lý thực dụng chủ nghĩa, sùng ngoại thái quá, lối sống chạy theo. hưởng thụ vật chất mà coi nhẹ giá tri tinh than. Day là lúc văn học có thể ngợi ca và cũng có thể lựa chọn cảm hứng phê phán.
Với cái xấu, sự lạc hậu, lỗi thời thì tiếng cười giễu nhại trong văn học như một luồng gió góp phần cuốn phăng di mọi rác rười trong xã hội.