CHƯƠNG 1 NHAN DIEN QUAN NIEM THO CUA CAC NHA THO MOL 1.1 NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH THƠ MỚI “Trong quá trình phát triển thơ ca Việt Nam thời trung dại, đôi lúc người ta có thể tìm thấy những hiện tượng thơ hoặc những sáng tác thơ có dấu hiệu. vượt ra ngoài tôn chỉ "Văn đĩ tải đạo”, “Thi đĩ ngôn chí”, trọng khuôn vàng, thước ngọc cỗ nhân của Nho giáo. Dễ dàng tìm thấy điều này trong sáng tác. của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương.
Sáng tác của họ có sự thay đổi nhất định về hình thức. Nguyễn Trãi có sử dụng thơ thất ngôn xen lục ngôn; việc sử dụng chữ Nôm cũng đã để lại nhiều thành tựu thơ lớn; đặc biệt, trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã bắt đầu có sử dụng những lối nói ẩn dụ, tượng trưng, đa nghĩa. Ngoài ra, việc sử dụng. các thể thơ thuần túy dân tộc như lục bát, song thất lục bát đã chuyển tải sâu sắc tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, hướng đến biểu đạt những tình cảm, tâm sự.
chân thật, những nỗi đau và khát vọng chân cÌ , đặc biệt là khát vọng, hưởng lạc, tận hưởng cuộc sống trần thể của con người Tuy vậy, do việc tuyển chọn quan lại bằng thi cử, và đặc biệt, do sự bảo. thủ của cơ chế xã hội, văn hóa cùng sự thống tri dai diing của Nho giáo và mỹ học Nho giáo nên một cuộc cách mạng trong thi ca chưa thực sự diễn ra Cuộc bình định của thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã làm xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc. Từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, Việt Nam trở thành xã hội thực dân nửa phong kiến. Tir một dân tộc tồn tại trong khu vực Đông Á, nước ta bắt đầu quá trình tiếp xúc.
với phương Tây và gia nhập vào thé giới hiện đại. Việc dây mạnh công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và việc hình thành các đô thị kéo theo sự hình thành lối sống đô thị, làm xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp mới như. giai cấp tư sản, vô sản, tẳng lớp tiểu tư sản, trí thức, thị dân. cùng với nó là sự hiện điện của những tư tưởng, tình cảm đậm tính cá nhân, cá thể.
Các giai cấp, tầng lớp mới này cũng có ý thức khẳng định, trau dỗi văn hóa dân tộc, khẳng định tình yêu quê hương đất nước, tình cảm dân tộc. Đó là nhu cầu. chính đáng và nền văn học đang trên con đường mở cánh cửa hội nhập phải có trách nhiệm đáp ứng. Bên cạnh đó, quy định về học hành, thỉ cử cũng có sự thay đổi lớn.
Sau khoa thi cuối cùng năm 1918, việc đào tạo tầng lớp trí thức Hán học chấm. cdức; lực lượng sáng tác văn học viết bằng chữ Hán Nôm ngày càng ít di. Thay vào đó, việc thi bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp ngày càng được mở rộng, dần hình thành tầng lớp trí thức Tây học. Từ tầng lớp trí thức này, xuất hiện những người chuyên viết văn, làm thơ.
Chữ Quốc ngữ dẫn thay thế chữ Hán ‘Nom trong các văn bản ắn hành lúc bấy giờ. Ảnh hưởng của phương Tây, chủ. vyếu là ảnh hưởng của văn học Pháp ngày cảng tăng. Cuộc vận động truyền bá chữ Quốc ngữ và sự ra đời của báo chí, nhà xuất bản, sự hình thành công chúng văn học ở thành thị thúc đây sự hình thành nhiễu thể loại văn học mới, trong đó có Thơ mới.
Trên báo chí lúc bấy giờ đã xuất hiện nhiều cuộc tranh luận góp phần mở đường cho sự phát triển của học thuật, ngôn luận như: cuộc tranh luận về quốc học (1924 - 1941), tranh luận về Truyện Kiểu (1924 — 1944), tranh luận duy tâm hay duy vật (1933 ~ 1939), cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” (1935 ~ 1939). Đặc biệt là cuộc tranh luận khá sôi nổi về thơ mới và thơ cũ (1932 ~ 1942) đã tạo ra nhiều tiên đề lý luận phong phú, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà văn, nhà thơ, học giá và công chúng. Điều đó cũng cho thấy phần nào trăn trở của những nhà thơ, nhà văn cả về ý thức, quan niệm sáng tác trước phong trào thay cũ đổi mới đang. diễn ra mạnh mẽ trên thí đàn.
Đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa “Thơ mới đến thắng lợi. Ở địa hạt thơ ca, giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra hệ thống những quy phạm về niêm luật của thơ truyền thống khó. chuyển tải nhuần nhụy sự tự nhiên của cảm xúc. Năm 1917, trên báo Nam Phong (số 5), Phạm Quỳnh, nổi tiếng là người bảo thủ, cũng phải thú nhận sự gò bó của các luật thơ cũ: "Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim.
Người Tau định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mắt đi cái giọng tự nhiên vậy". Sau đó, Phan Khôi cũng viết nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ và đòi hỏi cởi trói cho sáng tác thơ ca. “Thực tế, trong sáng tác thơ của Tân Đà đã có "một giọng phóng túng riêng” [55, 12], ít nhiều tạo điều kiện cho sự phát triển tự do của trí tưởng. Tiếp theo đó, năm 192§, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã phá vỡ vằn điệu, niêm luật, số câu, số chữ của "thơ cũ" khi dịch bài L4 cigale et la fourmi (Con ve và cái kiến) của La Fontaine sang tiếng Việt.
Năm 1929, Trịnh Đình Ru tiếp tục viết trên báo Phụ nữ tần văn (số 26) “Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến nỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vẫn gieo, nên ý' tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tấn mắn. Ta nếu còn ưa chuộng mà. theo lỗi thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong.
phát đạt được vậy”. Tuy vậy, phải đến ngày 10 tháng 3 năm 1932, khi bài thơ Tinh giả của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Pñụ mữ tân văn số 122 cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ, bước ngoặc mới của phong trào Thơ mới được mở ra. Lưu Trọng Lư viết bài hưởng ứng, có. kèm mấy bài thơ mới, in báo ngay năm này.
Sau đó, nhiều báo, nhất là Phong. Hóa đăng bài công kích thơ cũ, cỗ vũ thơ mới. Cuộc tranh luận giữa lối thơ. mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt.
Các báo đua nhau đăng thơ mới, và Tho méi lên thành một phong trào, mà người tiêu biểu là Thể Lữ. Mãi đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do sự thắng thể của lối thơ mới, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ cũ. Một thời kỳ mới của văn học. Việt Nam đã diễn ra với tên gọi quen thuộc là phong trào Thơ mới 1.2 SỰ KHANG BINH CON NGƯỜI BẢN THÊ VÀ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁI TÔI CÁ NHÂN 'Hêghen từng cho rằng, thơ ca bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy.
cần bộc lộ mình. Câu nói ấy một mặt chỉ rõ nguồn gốc nảy sinh và phát triển. của thể loại văn học nảy, một mặt cũng cho thấy nhu cầu thể hiện tâm tư, tinh cảm, thể hiện vai trò chủ thể của con người và cá tính, bản sắc của nhà thơ. trong hoạt động sáng tác thơ ca.
Con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật, hoặc trực tiếp miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người qua những hiểu biết; cắt nghĩa, lý giải, cảm nhận.tạo nên giá trị nghệ thuật và thâm mỹ cho các hình tượng nhân vật. Trong thơ ca Việt Nam thời trung đại, chủ trương nhập thế, sống có. trách nhiệm xã hội được những nhà thơ đồng thời là nhà Nho thé hiện thông qua hình ảnh những con người tập thể, biết “khắc ky, phye 18°, “vi nhân”.
*Ngôn chi”, “Thuật hoài”, “Bảo kính cảnh giới” - gương báu rin minh là hệ quy chiếu của việc thơ ca dùng để nói chí, tỏ lòng và tập trung xây dựng hình. mẫu con người sống có lý tưởng, hoài bão và khát vọng cao cả. *Vũ trụ nội giai ngô phận sự” - những việc trong trời đất đều là phận sự của ta (No sang bồng - Nguyễn Công Trứ). Do nặng tính đạo lý và giáo huấn, không đề cao.
cái “tôi” cá nhân nên thơ trung đại Việt Nam không trực tiếp miêu tả sự phong phú, phức tạp của nội tâm con người. Trong nhiều trường hợp, nhà 'Nho xưa phải đùng hành động bên ngoài để thể hiện nội dung bên trong, gửi gắm tâm trạng con người. Nguyễn Khuyến viết: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được. Ca đâu đớp động dưới chân bèo” (Thu diéu) là nhằm gửi gắm tâm trạng của nhà Nho đợi thời, ấp ủ hy vọng nhập thé, mong có cơ hội thể hiện tài năng kinh bang tế thế, phò vua giúp nước.
Tiếng cá đớp động chân bèo gợi sự thay đổi hiếm hoi của thời cuộc. Vẻ “hắt hiu” của gió, sự tẻ nhạt, quạnh quê nơi cảnh quê ngỏ nhỏ làm nỗi bật nỗi lòng của kẻ sĩ lánh đời nhưng luôn mong ngày trở lại với đời; chính tâm trang này dã được giải tỏa khi có tửa hy vọng lóe lên báo hiệu sự thay đổi của thời cuộc ở cuối bài. Có lẽ vì hi vọng sự chờ đợi của kẻ sĩ rồi cũng có kết quả mỹ man như sự chờ đợi của Lã Vọng ngày xưa mà tiếng cá quấy động chân bèo gần. với tiếng thở dài của Tam nguyên Yên Đỗ đang tống tiễn một mối thu tâm.
Sự ra đời của một lớp nhà thơ mới và ảnh hưởng của làn gió văn hóa phương Tây đặt ra nhu cầu bức thiết phải thay đổi thơ ca, thay đổi phương. tiện trực tiếp biểu hiện tư tưởng, tình cảm trong thơ. Thi sĩ hồ hởi đón nhận. làn gió mới ấy như một sự tự giải thoát.
Lần đầu tiên, ý thức cá nhân, những. quan điểm, khuynh hướng thẳm mỹ, xúc cảm cá nhân đi vào thơ ca với tư cách là nhân tổ trung tâm. Nghệ sĩ mạnh đạn bày tỏ hình ảnh của chính minh, khẳng định vai trò cá nhân của con người, coi những vấn đề của con người cá nhân là một trong những đề tài, đối tượng thẩm mỹ của quá sắng tạo thơ ca.