chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề chung vẻ sự nghiệp, con người nhà văn Vũ Bằng. Đồng thời, chúng tôi cũng phác họa về quan niệm nghệ thuật của Vũ Bằng. Đó cũng là những yếu tố có tính chất tiền đề để chúng tôi đi vào thực hiện những công việc nghiên cứu đặc thì pháp tiểu thu) tủa Vũ \g ở chương hai và chương ba Ở chương 2 và chương 3, trên cơ sở quan niệm của Vũ Bằng về tiêu thuyết nói chung, về các phương thức, cách thức xây dựng, sáng tạo các tác phẩm tiểu thuyết nói riêng, nhất là các vấn đề thuộc về kỹ thuật tiểu thuyết như cốt truyện, nhân vật, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ và giọng điệu tiểu thuyết chúng tôi từng bước làm rõ các đặc điểm thi pháp tiểu thuyết Vũ Bằng. Chwong 1 NHA VAN V0 BANG VA MOT QUAN NIEM MOI ME, HIEN DAI VE TIEU THUYET cũa Vũ Bằng Chân dung nhà vẫn Vũ Bằng 'Vũ Bằng là một nhà báo, nha văn tài năng.
Trong thời gian hoạt động tình báo, Vũ Bằng phải lặng lẽ gánh chịu nhiều đau khổ, cả gia đình ông cũng phải chịu những thiệt thỏi. Một thời gian dài, cuộc đời và sự nghiệp văn chương nghệ thuật của Vũ Bằng tưởng như chìm vào quên làng và dường như bị phủ nhận bởi án "quay lưng lại với kháng chiến”, "di cư vào Nam theo giác”. Nhưng bằng nghị lực phi thường của một nhà cách mạng. ông đã vượt qua mọi điều tiếng, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cách mạng tin tưởng.
Vì thế, khi danh phận được làm sáng tỏ, người đồi cảng ngưỡng mộ và khâm phục ông gắp bội lẳn. Trong số các nhà văn, nhà báo Việt Nam, Vũ Bằng là một trường hợp. Tên thật của ông là Vũ Đăng Bằng, sinh ngày 3 tháng 6 năm 1913 tại Hà Nội. Gia đình Vũ Bằng thuộc một dòng họ ní \g về truyền thống khoa.
bảng ở Ngọc Cục, huyện Lương Ngọc, tỉnh Hải Dương. Lớn lên, Vũ Bằng theo học trường Lycée Albert Sarraut - một trường, trung học Pháp nỗi tiếng thời ấy. Vào những năm cuối bậc trung học, ông đã bỏ theo nghề viết báo. Từ những năm 30 đầu thế kỷ XX, Vũ Bằng liên tục viết cho nhiều báo, sáng tác nhiều tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau.
hơn 40 năm cằm bút, Vũ Bằng đã để lại cho đời (nếu in thành sách) cũng được gần 100 cuốn, “trong đó có hàng ngản trang sách văn học lắp lánh tài hoa và chứa chan lòng nhân ái”. Những năm trước cách mạng, Vũ Bằng viết văn và làm báo rất nhiều bút danh khác nhau như: Vũ Bằng, Tiêu Liêu, Vịt Con, Thién Thư, Vạn Lý Tình, Lê Tâm, Vũ Trường Khanh, Hoàng Thị Trâm. và làm việc ở nhiều tờ báo: An Nam tạp chí, Đông Tây, Trung Bắc Tan Van, Công Dân, Tiểu thuyết Thứ bảy, Phổ thông Bán nguyệt san, 'Vũ Bằng mồ côi cha mẹ từ khi tuổi còn nhỏ. Về sau, do sự nông nồi, bồng bột của tuổi trẻ, Vũ Bằng đã tự đây mình đến v: “nang tiên nâu” cùng.
nhiều thói ăn chơi khác. Ở độ tuổi đôi mươi, ông đã nghiện thuốc phiện rất năng. Nhưng ông đã thức tỉnh, cộng thêm nghị lực mạnh mẽ đã giúp ông vượt khỏi sự thống trị của “nàng tiên nâu”. Ông nhận thức được nhiệm vụ lớn lao của công việc làm báo qua những cuộc trò chuyện với Nguyễn Văn Vĩnh.
Ông ý thức được rằng: “Cứ nằm dài hút sách bê tha như thể này thì có hy. vọng gì thoát khỏi được sự chỉ phối của xã hội và chính trị của Pháp” (Vũ Bằng, Cai). Khoảng năm 1934-1935, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Quy, người Thuận Thành, Bắc Ninh. Cuộc hôn nhân của hai người gặp nhiều sự phản đối của gia đình, bạn bè, do bà Quỳ đã có một đời chồng và đã có một người con riêng, bà lại hơn ông những sáu tuổi.
Nhưng cuối cùng, hai ông bà vẫn vượt qua tất cả để nương tựa bên nhau. Ông đến với bà Quy xuất phát từ lòng thương cảm trước nỗi bắt hạnh trong cuộc sống gia đình của bà với đời chồng trước. Khi về làm bạn với Vũ Bằng, bà Qủy có mang theo người con riêng là Khoái. Hai ông bà chỉ sinh được một người con duy nhất tên là Vũ Hoang Tuần (tên tục là Lạc, có khi gọi là Lăng).
Gia đình Vũ Bằng sống rất hạnh phúc cho tới khi ông vào Nam. Năm 1946, kháng chiến chống Pháp bùng nổ, hầu hết người Hà Nội đều tản cư về các miền quê, tránh xa vùng chiến sự, Vũ Bằng và gia đỉnh cũng tản cư. Với Vũ Bằng những ngày ở vùng kháng chiến là những ngày cực khổ, nhưng cũng đẩy vui vẻ: ông vừa làm báo, vừa cùng vợ kéo sợi đem ra chợ bán. Hội nhập với cuộc sống vùng tản cư ông cảm nhận sâu sắc về cuộc sống nơi đây và bộc lộ cảm xúc không chút giấu giếm: *Tôi chưa hề được sống những giờ phút sôi nỗi và ấm lòng như thế: đồng bào thương xót nhau.
như một thịt; người dân giúp đỡ nhau thật tình; anh lính ho thì người dân tự. nhiên thấy ngực mình đau nhói” (Vũ Bằng, Cø/). Cuộc sống vùng tản cư ngày. cảng gặp nhiều khó khăn, gian khổ.
Họ luôn phải đối mặt với vấn đề nan giải ở lại hay về thành ? Trên thực tế, nhié người vì động cơ khác nhau đã “định. tế”, có người chỉ vì miếng cơm manh áo, có người vì sự an toàn tính mạng, có người lại vì đông cơ chính trị sa ngã vào con đường Lim tay sai cho dich. tit cả những người chịu án “dinh tế" đều bị mang tiếng xấu, mang cái tội quay. lưng với kháng chiến, Vũ Bằng cũng là một trong số đó.
Cuối 194§, Vũ Bằng và gia đình hồi cư về Hà Nội. Ông cũng như gia đình không tránh khỏi sự phán xét, miệt thị của mọi người, kể cả những bạn bè thân thiết. Nhưng có một điều không ai biết ngoài ông là lý do việc hồi cư; đây chính là một nhiệm vụ cách mạng bí mật mà ông mới nhận trên cương vị một nhà hoạt động tình báo. Năm 1954, được sự phân công của tổ chức, ông đành dé lại vợ, con trai ở lại Hà Nội dé vào Nam làm nhiệm vụ.
Số phận đặt ông vào những thử thách mới đầy khó khăn và oan nghiệt mà chỉ ông mới thấu hiểu. 'Vào Nam với nhiệm vụ mới, Vũ Bằng lấy người vợ thứ hai là Lương. Thi PI nhỏ hơn ông 22 tuổi. Cũng xuất phát từ lòng thương cảm mà họ đến.
với nhau, bà Phấn tuy trẻ nhưng cũng đã một lần gãy gánh. Về chung sống. với Vũ Bằng, dắt theo đứa con riêng là Lê Văn Long, lúc ấy vừa bốn tuổi. Hai người ăn ở với nhau có được thêm sáu người con chung, ba trai, ba gái.
phải chung sức cùng vợ gồng mình gánh vác gia đình, lo cho bẩy con nhỏ. Đề mưu sinh, ông chỉ còn biết bấu víu duy nhất vào nghề viết. Vì vay, trong thời gian này, bên cạnh những tác phẩm sáng giá, ông còn cho ra đời một loạt những tác phẩm rất xa với văn chương như: Hạnh phúc lứa đổi, Các cô gái dậy thì nên biết, Các cô gái lẫy chẳng nên biết Mặc dù có vợ con ở miền Nam nhưng Vũ Bằng luôn hướng lòng mình về miễn Bắc, về người vợ nơi cố hương. Năm 1967, nhận được tin bà Nguyễn Th luỳ mắt mà ông không thể về thăm.
Ông phải gạt tinh cảm riêng tư qua "bên dé hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cách mạng tin tưởng giao phó. Suốt thời gian hoạt động tỉnh báo ở Sài Gòn, ông là một chiến sĩ cách mạng trung kiên. Phần đời sung sức nhất của mình ông đã cống hiến hết cho nghề viết và lặng. lẽ hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Những năm tháng hoạt động tỉnh báo cũng là khoảng thời gian ông chịu nhiều đau khổ và oan ức vì không thể thanh minh cho mình. Sự hy sinh của ông không gì bù nỗi; ông hy sinh quyên lợi cá nhân, bỏ sau lưng cả vợ lẫn con để vào Nam làm công việc tỉnh báo đầy nguy hiểm. Cuộc dấn thân vào nhiệm vụ mới với ông đầy mắt mát, càng làm sáng tỏ bản chất dũng cảm của ông - một chiến sĩ tình báo cách mạng. Nam 1975, đất nước thống nhất, mặc dù hoài hương đất Bắc nhưng Vũ Bing vẫn sinh sống tại miền Nam với cuộc đời chật vật chuyện cơm áo và khổ đau, nhất là thân phận chưa được làm sáng tỏ.
Ngày 8/4/1984, ông đã bỏ tất cả ở lại trằn thé, trút hơi thở cuối cùng, đi vào cõi vĩnh hằng. "Ngày I thang 3 năm 2000, Tổng cục II của Bộ Quốc phòng đã xác nhận 'Vũ Bằng là nhà văn - chiến sĩ tình báo của ta hoạt động trong lòng địch theo. sự phân công của cắp trên. Ngày 13 thắng 2 năm 2007, Vũ Bằng đã được truy tăng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 1.
Sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng 1. Lĩnh vực bảo chi Ở nước ta đầu thế kỷ XX, kiểu nhà báo - nhà văn trở nên phổ biến trong giới văn nghệ. Những năm ba mươi và những năm bốn mươi, Ngô Tắt Tó, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tam Lang, Vũ Bằng. đều có những sáng tác phổ biến qua báo chí.
Vũ Bằng là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu nhà vin — nhà báo giai đoạn này. Trên cương vị một nhà văn hay nhà báo, ông đều có những đóng góp tích cực và quan trọng, những đóng góp đó đã xác lập nên vị trí nhất định của Vũ Bằng trong lịch sử văn nghệ Việt Nam. 'Vũ Bằng là người say mê với nghề, một tài năng hiếm có thể hiện ở năng lực viết đồi dào cả về số lượng và chất lượng bài viết. Nhà văn Tô Hoài có lần ví ông: “Như một ông thợ nấu cực thành thạo, tay dao tay thớt, mắt để vào món chín, mắt để vào món bưng ra (.) Vũ Bằng làm báo, viết báo, thầu.
‘bao, cai đầu dài ba bốn tờ một lúc” [17, tr. Vũ Bằng có những luận thuyết và quan niệm về nghề báo thật là nghiêm cần. Con người ấy trong suốt cuộc đời bút đã âm thầm chịu đựng nhiều tả tiếng. Nói như nhà văn Triệu Xuân, ông là “người lữ hành đơn Mặc dù vậy, sau chặng đường dài hơn 40 năm làm báo, viết văn nhọc nhẳn ông vẫn cứ nguyện: “Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo” (Vũ Bằng, Bắn mươi năm nói láo).
Những năm trước cách mạng, ngoài hai tờ Án Nam rạp chí và Đông. Tây ông còn viết cho Trung Bắc chủ nhật. ông làm thư kí tòa soạn cho Tiểu thuyết Thứ bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Vit Duc.