chương 1. Hành trình sáng tạo Đào Thắng tên thật là Đào Đình Thắng, sinh ngày 10-08-1946, quê ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Ông từng là chiến sĩ pháo cao xạ chiến đấu ở tuyến lửa khu IV những năm tháng chống Mỹ. Ông vào bộ đội từ tháng 9 năm.
1965, trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường Khu IV, Mặt trận đường 9, Quảng Trị, Trung Lào. Đào Thắng xuất hiện trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội bằng thiên ký sự Hướng phụ làm xôn xao ling văn quân độ Sau đó, ông chuyển về làm việc cho tờ báo Quán Khu Bồn. Kết thúc chiến tranh, nhả văn được Tổng cục Chính trị điều về Hà Nội dự trại sáng tác ba năm liễn, rồi vào học trường viết văn Nguyễn Du khoá đầu tiên. Đào Thắng tốt nghiệp trường.
viết văn Nguyễn Du khóa I, và công tác tại xưởng phim quân đội, từng là chuyên viên Cục tư tưởng- Văn hóa. Ông giữ chức vụ chánh văn phòng Hội nhà văn Việt Nam từ năm 2002. Hiện nay ông là chuyên viên Ban sáng tác của Hội nhà văn Việt Nam. Giấc mơ lớn nhất của Đào Thắng là viết một cuốn tiểu thuyết về chính làng quê, dòng họ mình.
Nhưng để viết được cuốn tiểu thuyết mơ ước đó, ông. đã phải “zhứ bút" bằng 2 cuốn tiểu thuyết khác: Điểm cao thành phổ (1981) và Nước mắt (1991). Cuốn Nước mắt sau khi in ra liền đoạt 2 giải thưởng của. Bộ Quốc phòng và Hội Nhà văn Việt Nam.
Mười năm sau, Đào Thắng mới sang tao duge tic phim Dong séng mia day đặn — cudn tiéu thuyết mơ ước. của đời ông. Cho đến nay, Đào Thắng đã xuất bản các tác phẩm: Điểm cao thành phố L, 1981), Nước mắt (Tiểu thuyết, 1991), Đòng sông mía (Tiểu thuyết, 2004), Đất xanh: (Tiêu thuyết, 2006), Ngàn năm (Tiểu thuyết, 2006), Doc mién Trung ( Tiểu thuyết, 2008), Xứ sở Long (Tiểu thuyết, 2010). Tiểu thuyết Đông sông mía của Đào Thắng ngay từ khi mới xuất bản đã đạt được giải A-giải cao nhất của Hội nhà văn Việt Nam trong cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002-2004).
Theo nhà văn Đào Thắng, tiểu thuyết Đòng sông múa được thai nghén gần mười bốn năm. Tác phẩm được khởi thảo năm 1991, khi ông tham dự trại viết của Tổng cục Chính tri tai Sim Son (Thanh Héa). Hồi đó đi dự trại viết có nhiều bạn bè cùng thời với ông như Nguyễn Khắc. Bảo Ninh, Chu Lai.
Đang ở với mấy người bạn cùng phòng. 'khiêng bản lên tận tầng4 và ngồi viết một mình trên đó, viết được phần I Lửa hoang và 2 chương của phần II thì vợ ông bị tai nạn, ông phải để mọi thứ dở dang trở về. Năm 1997, ông hoàn thiện phần II. Nội dung cuốn sách có 2 phần, phần một la Liza hoang, phần hai là Máu của đất, kéo dài qua 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc.
Đảo Thắng đẻ cập đến những vấn đề của thôn quê, điền hình là quê hương Hà Nam của ông, cuộc sống của người dân chải ở vùng mới khai hoang, những xố phận, những tính cách, những cảnh ngộ, những khúc ngoặt của lịch sử. Mac dau vi sáng tác bị đứt quảng nhưng ông lại có thời gian để nghiễn ngẫm. Năm 2000, tại trại viết Nha Trang ông đã sửa xong. Nam 2004 Đào Thắng mới đưa sách của mình di in.
Sau những thể nghiệm thành công với tiểu thuyết Mước mắt (1991), Dao Thắng lại tiếp tục thành công với tiểu thuyết Đỏng sông mía. được bạn đọc, nhất là các nhà phê bình văn học đánh giá cao. Đây là một tác phẩm gắn liền với tên tuổi nha vin, thể hiện những sing tạo trên nhiều phương diện, có ý nghĩa cách tân về thể loi, yếu tổ không gian và thời gian được xử lý linh hoạt, cách dựng người, dựng cảnh độc đáo và đặc biệt ông có. một vốn từ ngữ phong phú, đậm chất dân gian.
éu thuyế Đồng sông mía thực sự là một tác phẩm khẳng định tài năng của nhà văn Đào Thắng. 1 Quan niệm văn chương. Quan niệm sáng tác của nhà văn là một trong những nội dung quan trọng làm nên ý thức và ý nghĩa văn chương mỗi thời. Sự chuyển biến của văn.
học trước hết thể hiện ở sự chuyển biến trong ý thức của người cằm bút. Mỗi thời kì lịch sử, quan niệm về văn chương đều có sự biến đổi, vừa để phủ hợp với nền tảng xã hội, vừa đáp ứng nhu cầu tiếp nhận của độc giả. về văn học thay đổi, yếu sẽ dẫn đến thay đổi quan niệm của nhà văn trong sáng tác. Mỗi người viết nếu muốn khẳng định tên tuổi của mình thì phải tạo.
ra được dấu ấn riêng không hỏa lẫn giữa các nhà văn khác. Kundera cho ring: Khám phá ra cái mà chỉ có tiểu thuyết mới khám phá được, đó là lẽ sống duy nhất của một cuốn tiểu thuyết. Cuốn tiểu thuyết nào. không khám phá ra thêm được một mẫu sự sống trước nay chưa từng biết là một cuắn tiểu thuyết vô đạo đức.
Hiéu biết là đạo đức duy nhắt của một cuồn tiểu thuyết|[29, tr.10], Nhu vay, quan niệm của Kundera đặt ra yêu cầu đối với nghệ sĩ phải có thực tài "khám phá ra thêm được một mẫu sự sống”, đó là "đạo đức” của người cằm bút. Giáo sư Phan Cự Đệ khẳng định: “Tiểu thuyết không phải chỉ miêu tả cuộc sống riêng tư”, không phải chỉ là “anh hùng ca của cuộc sống cá nhân, tiểu thuyết còn là bức bích họa khổng lồ bao quát cả một thời đại”. Tiểu thuyết có khả năng miêu tả một cách quy mô toàn diện thế giới khách quan. rộng lớn, có thể tái hiện những xung đột căng thẳng đầy kịch tính trong hành động và ngôn ngữ của con người, mặt khác lại có thẻ đi sâu vào những biểu hiện rất nhỏ, rắt tỉnh tế của đời sống tâm lí bên trong.
Những nhà văn lớn là những bậc diy, họ có sự từng trải. Họ hi: đến những bí an của lòng người. Và họ không chịu dừng lại ở cái nào, ngồi bút của họ lột tả được sự thật của đời sống. Đồng thời, trong mỗi dòng chữ của họ luôn lắng lại một tình yêu thương, một niềm tin đối với con người.
Sau 1986, không khí mới thực sự tràn vào đời sống xã hội và đời sống văn học, tiểu thuyết có điều kiện cân bằng lại trạng thái tâm lí con. Dòng tiểu thuyết hướng nội tập trung khám phá những bí ẩn trong tâm. hồn con người đã xuất hiện. Nhà văn Nguyên Ngọc ghi nhận “Văn học chăm.
chú quan tâm hơn đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa dang, đa chiều, đa tằng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa dạng với toàn xã hội và với chính mình” [38]. Không loại bỏ xu hướng “ướng ngoại” và quan tâm hơn đến xu hướng “hướng nói”, tiểu thuyết giai đoạn này đã đi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, đối thoại với đời sống, đối thoại với cuộc đời để nắm bắt được “cái hôm nay bề bộn, ngồn ngang bóng tối và ánh sáng”( Nguyễn Khải ), đồng thời lặn sâu vào tâm. hồn con người để lắng nghe tắt cả những âm vang của tiếng lòng bí ẳn trong. con người Có thể nói, chưa bao giờ những vấn đề thuộc về đời sống xã hội mà văn học quan tâm hiện lên chân thực, sống động mà xót xa, nhức nhối như thế trong tiểu thuyết, bởi các nhà văn đã khai thác tới tằng via của hiện thực đời sống qua số phận con người, có khi qua những mảnh vỡ từ bi kịch làm người của con người.
Vì vậy ta gặp trong tiểu thuyết hôm nay cái chật hẹp của “cõi nhân gian” rộng lớn và cái mênh mông, thăm thắm sâu của cõi lòng bé nhỏ, qua số phận của những con người. Những quan niệm về tiểu thuyết trên đây được coi là tiền đề đi vào nghiên cứu quan niệm vấn chương của Dio Thing. Không phải là người đề xuất những tuyên ngôn nghệ thuật có tính chất khai sáng, mở đường, nhưng Đào Thắng khi din thân vào nghiệp cằm bút cũng đã tự xác định cho mình một quan niệm trong sáng tác văn chương khá rõ rằng: muốn thành công trong sáng tác văn chương, nhà văn cần phải bám. chắc lấy hiện thực đời sống.
Ông từng nói: Có quá nhiều tác phẩm văn học của chúng ta xa rời thực tế, không gắn với đời sống, cảnh ngộ của con người, nói những điều viễn vồng với những lý thuyết Tây Tàu tận đấu tận đâu mà chưa bảm vào sự thật của lich sử, của cái khung văn hóa Việt. Kinh nghiệm phương Tây là điều cần thiết, nhưng bắt chước họ thì chúng ta lại càng lạc hậu! Nếu biết bám chặt lẫy đời sống và văn hóa Việt, khéo. vấn dung thì vẫn học mình sẽ có thành công [26] Theo Dao Thắng, sự thảnh công của tiểu thuyét Dong séng mia la nh nhà văn biết gắn câu chuyện với “Văn hoá Aia" của lang qué minh. Ong cho rằng mỗi nhà văn đều có một quê hương, lợi thể của các nhà văn là có thể dựa.
vào mảnh đất phì nhiêu đó để cày xới cho tác phẩm của mình. Đào Thắng cũng rất gắn bó và có ân tình sâu nặng với mảnh đắt quê hương mình. Quê ông có một thời trồng mía. Hai bên bờ sông là mía bạt ngàn.
tuổi thơ và những cơn gió Bắc của cái rét Bắc Bộ mùa đông ám ảnh nhà văn không nguôi. Trong tác phẩm, dòng sông là một “zin vá” xuyên suốt, chứng kiến tắt cả mọi điều. Người dân sống nhờ sông rồi chết cũng trở về với song. Để làm được giọt mật cho đời, loài ong phải cần mẫn hút nhụy ở trăm hoa.
Công việc sing tác văn chương của nhà văn cũng vậy. Để viết được một tác phẩmcó giá trị, được công chúng đón nhân, nhà văn phải lao động cật lực, miệt mài, phải có sự trải nghiệm cuộc sống. Để viết được Đỏng sóng mia, Đào Thắng đã phải tự mình nghiên cứu, tìm hiểu nghề nấu đường cực nhọc, nguy hiểm. Đào Thắng tâm sự: Tôi đã phái Ống ở quê, mua một cái máy ép mía, lao động ngày đêm như giời đầy để nắu nước mía thành đường, mà làm một cách lên lút trong một căn phòng nhỏ.
Một lắm, có lúc dừng tay để nghỉ ngơi chút xíu nhương lại ngủ thiếp đi lúc nào không biết, tỉnh đậy lại hỳ hục ngôi ép mía, nấu đường|26|. Đồng sông mía của Đào Thắng được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt bởi Đào Thắng đã phản ánh được vẻ đẹp của văn hóa làng quê mình. Nhà văn viết về gia pha của một dòng họ ưu tú ở nông thôn, lịch sử của một ngôi làng bên ‘ba song Châu đậm đặc sắc thái văn hóa dân gian.