CHƯƠNG 1 HANH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ. QUAN DIEM NGHE THUAT CUA MA VĂN KHÁNG 1.1, HANH TRINH SANG TAO CUA MA VAN KHANG, 1. Các chặng đường sáng tác a. Vai nét tiéu sit Nhà văn Ma Văn Kháng tên thật là Dinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936.
Quê gốc của ông ở phường Kim Liên, quận Ba Dinh, thành phố Hà Nội. Đinh Trọng Đoàn tham gia quân đội từ thuở thi niên. Năm 1949, ông học trường Thiểu sinh quân, Bộ Quốc phòng và sau đó được đi học Trung cấp Sư phạm ở Khu học xá Nam Ninh (Trung Qué “Trong khoảng thời gian học 6 Trung Quốc, ông đã "dẫn dần hình thành hướng đi của cuộc đời minh theo ý tưởng cao đẹp”, đó là * thiên hướng văn chương”. Từ đây, nhà văn bắt đầu “bén rễ", “bắt nguồn vào cuộc sống để thực hiện lý tưởng, hoài bão sống của mình.
Sau khi trở về nước, ông xung phong lên Tây Bắc dạy học. Lào Cai xa xôi trở thành miền đất hứa để chàng thanh niên mười tám tuổi Đinh Trọng. Đoàn say sưa vẫy vùng chí thỏa nguyện. Trong khoảng thời gian từ 1955 đến 1959, ông làm Hiệu trưởng Trường cấp II thị xã Lào Cai với sự nghiệp trồng.
Năm 1960,ông vào học Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi tố nghiệp. lại tiếp tục quay lại Tây Bắc dạy học. Trong những năm gắn bó với Tây Bắc, ông đã trải qua nhiều công việc khác nhau: dạy học, làm thư ký cho Bí thư Tinh ủy Lào Cai, làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đăng bộ Tĩnh. Hon hai mươi năm sống và làm việc ở ving nữi ấy, ông đã cổ gắng hòa nhập với môi trường mới, gắn bỏ và làm việc hết mình, coi đây như là quê hương, thứ hai Cái tên Ma Văn Kháng là sự thể hiện tình yêu và gắn bó cho ky niệm hơn hai mươi năm sống và làm việc ở Lào Cai - quê hương thứ hai của mình.
Giải thích về cái tên đặc biệt của mình, nhà văn cho biết Kháng là một bí danh. của ông, còn lấy họ Ma là do ông tỏ lòng biết ơn người đã cứu mình: trong. một lần bị ốm nặng khi còn ở Lào Cai, nhà văn được đồng chí Ma Văn Nho, Phó Chủ tịch huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tận tình chăm sóc, tìm thuốc cứu chữa, sau đó nhà văn quyết định kết nghĩa anh em và chuyển sang. Từ đó Ma Văn Kháng là tên dùng hằng ngày, trong công tác, sau này viết văn thì dùng luôn chứ không phải viết văn rồi mới đặt ra.
Từ sau 1976 đến nay, Ma Văn Kháng chuyển công tác về Hà Nội. Ông từng làm Tổng biên tập, Phó giám đốc Nhà xuất bản Lao động thuộc Tổng. liên đoàn Lao động Việt Nam. Từ 1995, nhà văn là Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam, đến 1999, ông làm Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội nhà văn Việt Nam.
Hiện nay, ông và gia đình vẫn sống bình dị trong một căn hộ nhỏ do nhà nước cấp trong một ngõ hẻm sát đại lộ. Nguyễn Chí Thanh, quận Ba Đình, thành phổ Hà Nội. Các chặng đường sắng tác ~ Giai đoạn trước 1986: Những trang viết về miền núi Tây Bắc đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác của. Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt những truyện ngắn và tiểu thuyết về cuộc đấu tranh, về cuộc sống và con người nơi biên ải.
Hơn hai mươi năm công tác ở miền núi là quãng đời trẻ trung, sôi nổi nhất của Ma 'Văn Kháng. Thời trai trẻ của nhà văn là sự dẫn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cước. Mảnh đất Lào Cai xinh đẹp cùng những con người tình nghĩa nơi đây chính là nguồn cảm hứng và động lực sáng tạo của nhà văn. Tác phẩm đầu tay của ông là Phổ cự: (1961), một câu chuyện kể về số phận vài ba con người quần tụ trong một ngõ nhỏ heo hút.
miền núi, thế nhưng vẫn chưa để lại đấu ấn nhiều, cho đến khi Xa Phii (1969) ra đời - tác phẩm được coi là bước khởi đầu cho sự nghiệp văn chương của ông. Từ đó, cái tên Ma Văn Kháng trở nên quen thuộc với độc giả với lần lượt hàng loạt tập truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời: Người con trai họ Hạng (1972), Cái máng ngựa (1913), Gió rừng (1911), Vệ sĩ quan châu (1918) , Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang (1979), Có cần (1977), Đằng bạc trắng hoa xòe (1979), Góc rừng xinh xắn (1980), Vùng biên ái (1983), Trăng non (1984). Ma Văn Kháng đã tạo nên những bức tranh lịch sử xã hội hào hùng, bị tráng của miền núi Tây Bắc với những nét hoang sơ, rừng núi hùng vĩ của. miễn biên đầy đủ tính chân thực và sinh động cùng những con người hiền hậu, trong trẻo, hồn nhiên, giảu tình cảm.
Đẳng sau những trang vi đó là tắt cả sự trân trong, nang niu cua một tắm lòng dành cho quê hương thứ hai của mình Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Ma Văn Kháng trở về với cuộc sống miền xuôi Hà Nội, ông hòa nhập rất nhanh với cuộc sống đô thị. Nhạy cảm trước hiện thực với nỗi lo âu thế sự, nhà văn cho ra đời hàng loại những sáng tác mang hơi thở của cuộc sống thị thành. Tiểu thuyết Mươ mùa ủg (1982) là một dấu mốc thể hiện sự chuyển hướng sáng tác của nhà văn. Từ một nhà văn say mê với thiên nhiên, con người biên ải nay bỗng nhiên chuyển.
sang mảng thành thị rất tự nhiên. Tiếp nối Afw mùa hạ, là sự xuất hiện của Mia lá rụng trong vườn (1985) đã gây được tiếng vang và sự chú ý đông đảo của độc giả và được xem là cuốn "tiền trạm” của đổi mới ma ở đó chứa nhiều dự báo sáng suốt về tính chất hai mặt của cơ chế thị trường trong cuộc sống, số phận con người nơi đô thị đầy biến động ở thời kỳ quá độ. Trong các truyện ngắn của mình, Ma Văn Kháng cũng đã thể hiện thật sinh động con người với tắt cả các mồi quan hệ xã hội, thân phận và cuộc đời với sự tha hóa xuống cấp của con người từ người trí thức đến nông dân, nhưng bên cạnh đó trong con người vẫn còn lắp ló những nét đẹp nhân bản không bao giờ mắt trong nhiều tác phẩm: Tình người (1980), Chuyển xe dém (1981), Người thợ bạc ở phố cũ (1984), Ngày đẹp trời (1984), Mắt điện (1984). ~ Giai đoạn từ sau 1986 đến nay: Bước sang thời kỳ đổi mới, đắt nước có nhiều thay đồi, biến động.
Buổi giao thời giữa cũ và mới, giữa cơ chế bao cắp với cơ chế thị trường tạo nên. một xã hội bát nháo, nhiều điều chướng tai gai mắt khiến nhà văn không thể đứng ngoài cuộc. Cũng như nhiều nhà văn khác, Ma Văn Kháng không hề né. tránh những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội thực tại.
Bằng lòng yêu. thương, trân trọng con người và đạo đức của một nhà văn, ông đã thẳng thắn. nêu lên những vấn nạn của xã hội đang bị chỉ phối bởi nền kinh tế thị trường, bởi đồng tiền. Trong khi dư luận về Mùz Id rung (rong vườn còn đang sôi nỗi thì Đám cưới không có giấy giá thú (1989) ra đời khiến cho đời sống văn học.
phong phú và sinh động hơn. Trước hiện thực đổi mới, với sức văn đang trong, giai đoạn chín muỗi, Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm văn xuôi có giá trị và ông đã thành công không chỉ ở thể loại tiểu thuyết với các tác phẩm Cói cút cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược đồng ước là (1999). mà nhà văn còn khẳng định tải năng của mình trong địa hat truyện ngắn với các tập truyện đặc sắc như: #feo may gió lộng (1992), Trăng. soi sân nhỏ (1994), Một chiêu dông gió (1998).
Dù đã thành công với những tiểu thuyết viết về thành thị, Ma Văn Kháng. vẫn còn lưu luyến với miền núi Lào Cai. Ông lại tiếp tục mạch cảm hứng về miễn núi với ba cuốn tiểu thuyết Gặp gỡở La Pa Tẩn (2001), Một mình một. ngựa (2009), Chuyện của Lý (2013) như lời tr ân với đồng bào nơi đây với những tình cảm thiết tha, gắn bó, ‘Tir anh giáo trẻ xung phong lên miền sơn cước với nhiều lý tưởng và hoài bão sống cao đẹp, Ma Văn Kháng đã trở thành một trong những nhà văn hàng đầu Việt Nam, Với năm mươi năm gắn bó với nghề, nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta có thé thấy được rằng Ma Văn Kháng đã trở thành một tắm gương lớn về lao động nghệ thuật nghiêm túc và sáng tạo.
* Các giải thưởng trong sự nghiệp vẫn chương của Ma Văn Kháng - Giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho quyển tiểu thuyết Afùa lá rụng trong vườn. ~ Giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho. tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ. - Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998.
~ Giải thưởng Nhà nước về văn học - Nghệ thuật năm 20011 ~ Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các. tác phẩm 7ruyện m chọn lọc, Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tân 1. Các thể loại văn xuôi tiêu biểu * Truyện ngắn: Cho đến nay, Ma Văn Kháng đã viết được hơn 200 truyện ngắn. Phần lớn các truyện đều được in khoảng hơn hai chục tập, được xuất bản rải rác từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước tới nay.
(Không ít những tập truyện viết về dé tài miền núi trước đó như Xz Pjui, Mùa mận hậu. mà theo tác giả là không muốn bận lòng bạn đọc, đối với nha văn đó chỉ là những bài tập của một thời còn ấu trĩ). Tính ra, Ma Văn Kháng cũng đã viết truyện ngắn đến hơn ba mươi năm. Trong các tập đã xuất bản, có một số tập truyện đáng chú ý như: = Trang soi sân nhỏ ~ Một chiều đông gió.
~ Mông vuốt thời gian ~ Mùa thu dio chiều ~ Một nhan sắc đàn bài - Trần nợ * Tiểu thuyết: 'Với một tài năng xuất chúng và một sức văn bẻn bi, Ma Văn Kháng đã cho ra đời 16 cuốn tiểu thuyết trong sự nghiệp văn chương của mình. - Giá rừng ~ Đồng bạc trắng hoa xỏe - Mưa mùa ha - Vùng biên ải - Trăng non - Mùa lá rụng trong vườn - Vð sĩ lên đài ~ Đám cưới không có giấy giá thú - Cổi cút giữa cảnh đời ~ Chỏ Bị, đời lưu lạc - Ngược dòng nước lĩ - Gặp gỡ ở La Pan Tấn - Một mình một ngựa - Bóng đêm ~ Bến bờ.