Chương 1:7hánh Tông di thảo và Truyén kỳ mạn lục - Vấn đề tác phẩm và tác giả. Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu vấn để tác phẩm. và tác giả của Thánh Tổng di thảo vi Truyén kỳ mạn lục cũng như vị trí của hai tác phẩm trong lịch sử văn học Việt Nam Chương 2: Thể giới hình tượng trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn iục. Trong chương này, chúng tôi tim hiéu hit tượng nhân vật và hình tượng không - thời gian trong Thánh Tổng di thảo và Truyền kỳ mạn lục.
Chương 3: Phương thức thẻ hiện th giới nghệ thuật trong Thánh Tông đi thảo và Truyền kỳ mạn lục. Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu nghệ. thuật xây dựng cốt truyện; phương thức thể hiện yếu tố kỳ ảo và đặc điểm lời văn trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục. CHUONG 1 THANH TONG DI THAO VA TRUYEN KY MAN LUC- VAN DE TAC PHAM VA TAC GIA 1.1, THANH TONG DI THAO - VAN DE TAC PHAM VA TAC GIA 1.
Tác phẩm Thánh Tông di thao Hiện nay Thánh Tổng di thảo được lưu giữ với hai văn bản: đó là một bản chép tay đang được lưu giữ tại thư viện Viện nghiền cứu Hán Nôm, hiệu A202 và một bản Microflim được bảo quản tại thư viện Trường Viễn Đông Bác cổ, kí higu MF 11/6993 ‘Tac phẩm Thánh Tông đi tháo gồm hai quyển: quyển Thượng bao gồm. 13 truyện và quyển hạ gồm 6 truyện. Hai quyển này được đóng thành một tập. khổ 13,5 x 20,5 em, dày] 56 trang.
Thánh Tông di thảo cô 19 truyện; bao gồm: 1/."Truyện yêu nữ Châu Mai " (Mai Châu yêu nữ truyện); 2/. "Truyện dòng dõi con thiểm thi" (Thiém thir miêu duệ ký); 3/."Truyện hai phật cãi nhau" (Lưỡng phật đấu thuyết ký); 4/. "Truyện người hành khắt giàu" (Phú cái truyện); 5/. "Truyện hai thần nữ" (Nhĩ nữ thần truyện); 6/."Phả ky sơn lâm" (Sơn lâm phả); 7/."Bức thư của con muỗi" (Văn thư lục); 8/.
"Duyên lạ ở Hoa quốc" (Hoa quốc kỳ duyên); 9/. "Trận cười ở núi Vũ Môn” (Vũ Môn tùng. "Truyện lạ nhà thuyền. "Lời phân xử của anh điếc và anh mù" (Lũng cố.
"Ngọc nữ về tay chân chủ" (Ngọc nữ quy chân chủ); l3/ "Truyện hai thần hiểu đễ" (Hiểu đễ nhị thần truyện); 14/. "Truyện chồng dê" (Dương phu truyện); 15/. "Người trần ở thủy phủ" (Trần nhân cư thủy phủ); 16/. "Gặp tiên ở hồ Lăng Bạc" (Lăng Bạc phùng tiên); 17/.
"Truyện một giấc mộng" (Mộng ký); 18/."Truyện tỉnh chuột" (Thử tỉnh chuột); 19/. "Một dòng chữ lấy được gái than" (Nhat thu thủ thần nữ). Mỗi truyện chia làm hai phần: phần truyện và phần lời bình. Tác giả lời ¡nh có hiệu là Sơn Nam Thúc.
Sau lời bình truyện Hoa quốc ki duyén có truyện phụ chép Kim rằm. Tương tự, sau. truyện Mộng kí có chép thêm hai truyện nhưng không có nhan đề. Văn bản 7hánh Tổng di tháo, hiện nay có bản dịch của Nguyễn Bích Ngô được xuất bản hai lần: +Lần 1: Do Nguyễn Văn Tú hiệu đính, Lê Sỹ Thắng giới thiệu, Nxb Văn.
+Lần 2: Do Phạm Văn Thắm giới thiệu, Nxb Văn học, 2001.2, Van dé n dai tác giả của Thánh Tông di thảo Xung quanh văn bản Thánh Tông di thảo có nhiều ý kiến khác nhau về tác giả và hoàn cảnh ra đời của văn bản. Đa số các nhà nghiên cứu cho đây là một tập hợp nhiều truyện kí trong đó có những truyện là của Lê Thánh Tông, có những truyện do người đời sau viết thêm. Tên sách có nghĩa là: bản thảo còn sót lại của Lê Thánh Tong. Ching ta điều biết các triều đại nhà Lí, Trần, Lê đều có những ông vua mang miếu hiệu Thánh Tông, nhưng vì vua Lê Thánh Tông có tiếng là ông vua giỏi về văn chương, đặc biệt là người sáng.
lập ra Hội Tao đàn nên người ta gắn tên sách này cho ông. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến xu hướng đề cao ý thức hệ Nho giáo vốn là nét nỗi bật của vua Lê Thánh Tông, hay chú ý ¡ sáng tác "tập cổ trong một số. truyện, đến giọng tự đắc, khoa trương, thích dạy đời của một ông vua giỏi về chữ nghĩa thánh hiễn. Hiện nay, Thánh Tông đi thảo quả có nhiều điểm khiến cho giới nghiên cứu không thể không đặt những dấu hỏi nghỉ ngờ.
Song, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đều đi đến một nhận định tương đối thống nhất. Nhiều thiên trong Thánh Tông di thảo chắc chắn phải của Lê Thánh Tông. Chính điều này được coi là cơ sở để nghiên cứu tác phẩm, nhằm làm sáng tỏ con người và tư tưởng của Lê Thánh Tông cũng như vấn đề của thời đại ông. Sau đây, là một số ý của các nhà nghiên cứu xung quanh vấn đề niên đại và tác giả.
của Thánh Tông di thảo Trong Lởi giới thiệu Thánh Tông di thảo, bản dịch của Nguyễn Bích Ngô, Nxb Văn hóa và Viện văn học, 1963. Hai nhà nghiên cứu Lê Sĩ Thắng. và Hà Thúc Minh cho rằng hiện nay có ba loại ý kiến khác nhau vẻ tác giả của Thánh Tông di thảo: a) Loại ý kiến thứ nhất: Một số người căn cứ vào lồi tự xưng của tác giả. phi hợp với lối tự xưng của Lê Thánh Tông trong Thiền Nam dự hạ khi tác giả nói thường viết: “Tôi, lúc tại đông cung” hoặc “Tôi, lúc ở tiểm để”, vào nội dung một bài trong đó Lê Thánh Tông tự đặt mình vào truyện và vào sự đánh giá rất cao của tác phẩm về mặt văn chương, mà đi đến kết luận rằng sách này chính là của Lê Thánh Tông viết.
b) Loại ý kiến thứ hai: Một số nhà nghiên cứu đưa ra những chứng cứ: dựa vào địa danh như: Hà Nội trong Đuyển lạ nước Hoa nhưng đến năm Minh Mệnh thứ mười hai (1831) mới lấy tên là Hà Nội. Vì vậy, thời Lê Thánh Tông chưa có địa danh “Hà Nội”, “Đoái hồ” (tức Hồ Tây ngày nay). Trong Yêu nữ Châu Mai và bài kí Một giắc mộng, Hồ Tây đã mang nhiều tên. khác nhau: đời Lý gọi “Đàm Dàm”, sau đổi thành Hồ Tây.
Về sau, vì phải kiêng tên hiệu “Tây Vương” của Trịnh Tạc, đổi thành Đoái Hồ, sau khi Trịnh Tạc mắt, người ta mới gọi là Hồ Tây; dựa vào các sự kiện lịch sử như nạn lụt năm Qúy Ty trong Hai phật căi nhau hỉ xét sử thì năm ấy là năm Hồng Đức thứ tư (1873). Nhưng năm Quý Tị ấy có hai lần hạn, lần thứ nhất vào tháng. hai, ba, lẫn thứ hai vào tháng bảy, tám. Tuy tháng tư và tháng chin năm ấy có mưa to mấy ngày nhưng không có lụt.
Như vậy, cái nạn lụt năm Qúy Tị trong truyện không xây ra thời Lê Thánh Tông. Căn cứ vào các danh từ chỉ học vị “phó bảng” và “cử nhân” trong Trần nhân cư thịy phủ. Sách Quốc triểu khoa luc có chép rằng : năm Quang Thái thứ chín, đời Trằn Thuận Tông có định cách thức thi cử nhân và các khoa t Lê nhiều năm chép là “hội thí thiên hạ cử nhân”. Nhưng chữ cử nhân ở đây có nghĩa là “người đi thi”.
Như vậy, đời Lê Thánh Tông chưa có học vị này. Trong một số bài tác giả xưng là: "Tôi, lúc ở đông cung”, hoặc “Tôi lúc ở tiềm để". Nhưng ai cũng biết rằng vua Lê “Thánh Tông không làm thái tử, cũng không ở đông cung ngày nào. Hơn nữa, trong Thiền Nam dự hạ cũng không có chỗ nào Lê Thánh Tông tự xưng như trên cả.
Lối xưng hô như trên không hợp với vua Lê Thánh Tông, Trong bai Hai gdi thẳn có ghi câu của một nhà nho thốt ra: “Mượn nơi có phúc để làm nguôi cái hờn giận của văn chương”. Có lẽ nảo thời đại đạo 'Nho và nhà Nho rất được tôn trọng như thời Lê Thánh Tông lại có hình ảnh của một nhà nho oán giận thời thế như vậy. ©) Loại ý kiến thứ ba: Xét thấy trong sách xen vào những bài văn yếu, có những bài cứng cáp; xen vào những bài có địa danh và sự việc; có những, truyện mà nội dung tư tưởng hoàn toàn xa lạ với tư tưởng của Lê Thánh Tông. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng dựa vào những truyện mang dim “khẩu khí thiên tử” để đi đến kết luận: Trong tập Thánh Téng đi thảo có những bài là của Lê Thánh Tông song cũng có những bải là của người đời sau thêm vào, Trong "Thánh Tông di thảo” (Tim hiểu kho sách Hán Nôm) Trần Văn Giáp đã đưa ra một số nhận định phủ nhận vai trò của Lê Thánh Tông trong tác phẩm này.
“Thanh Tông” là miếu hiệu mà Lê Tư Thành được tôn tặng sau khi mắt 10 tháng 23 ngày. Do vậy 7hánh Tổng di thao không phải là của Lê Thánh Tông. Bởi lẽ tên gọi "Thánh Tông” chưa xuất hiện khi sinh thời của tác giả Ngoài ra, một số địa danh như : Hà Nội, Đoái Hồ, các danh từ : "đông cung”, “tiềm đế" ; sự kiện lịch sử nạn lụt năm Qúy Ty điều khẳng định rằng Thánh: Tông di tháo không phải là của Lê Thánh Tông, vì những cứ liệu này đều xuất hiện ở thời đại sau. Từ đó có thể kết luận rằng: “?hánh Tông di thảo hiện có không phải là của Lê Thánh Tông.
Nó chỉ là một tập thần thoại hay đoản thiên tiểu thuyết, đúng tên nó là gì không rõ, viết vào khoảng giữa thể kỉ XIX đến đầu thế ki XXX. Có thể là sau năm Qúy Ty niên hiệu Thành Thái thứ năm (1893) và tác giả bút danh Sơn Nam Thúc. Một người nào đó vì hiểu kì, hoặc chủ yếu lừa độc giả, đã đặt cho nó cái tên Thánh Tổng di thao” [39, te. 178] Trong Van bản của Thánh Tông di thảo (Lẻ Thánh Tông về tác giả và tác phẩm) nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh kết luận rằng : “Thánh Tông di thảo được hình thành muộn nhất là khoảng nửa sau thế kỷ XVIIL Nó.
không phải là một tập truyện tự do như Việt điện w linh, Linh Nam chích quái Thánh Tông di tháo là một chính thể nghệ thuật do một người thu thập, cầu tạo thành sách và viết lời bình. Tác phẩm có thể là của Lê Thánh Tông (phần lớn) và một số người khác hiện chưa biết rõ, nhưng tổ chức thành sách như hiện nay là sự kết cấu và có ý đồ nghệ thuật của Sơn Nam Thúc” [36, tr. Trong Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kì viết bằng chit Hán ở Việt Nam thời trung đại, Phạm Văn Thắm, Luận án Phó Tiền sĩ Khoa. học Ngữ văn, Hà Nội, 1996; tác giả cũng đồng tình với ý kiến: xen vào những.