CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VA HANH TRINH SANG TAO CUA TRAN DAN 1. QUAN NIEM NGHE THUAT 1. Văn chương phải luôn tự đỗi mới Trong suốt quá trình sáng tạo văn chương, Trần Dẫn, “người làm vườn, ươm chữ” đã “tận tụy ươm chữ cho một mùa chữ Việt sáng - sạch - trong” [66. “Với lương tâm một người làm vườn quốc ngữ”, chữ trong văn chương ông không đơn thuần là công cụ, phương tiện diễn đạt mà chính là đối tượng khám phá, miêu tả.
Trần Dần không gọi là chữ theo nghĩa thông thường. mà ông nhắn mạnh đến sự sống, bản chất tự sinh của nó bằng cách gọi độc đáo “con chữ”. Con chữ trong văn chương Trần Dần không chỉ mang nghĩa. có sẵn mã còn mang nghĩa tự sinh.
Bởi nó như một cơ thể sống, đang sinh tồn, dang cua quay. Nhu vay, tat yếu bản thân chữ phải tự tìm đến cuộc sống đích thực của chính nó chứ không phải bám theo nội dung, ý nghĩa mà người ta gắn cho mới có tỉ tại. Với quan điểm này, Trần Dần đã trực tiếp mỡ ra một con đường thử nghiệm mới trong thơ ca, một hướng đi riêng, mới lạ và độc đáo không chỉ so với các đồng nghiệp cùng thời mà giá trị của nó vẫn vẹn nguyên và ngày cảng hấp dẫn, thu hút với thế hệ các nhà thơ, nhà văn trẻ đương đại “Trong cuộc sống, cái mới thường đi liễn với cái khó: khó nhận thức - khó tiếp nhận và dẫn đến thái độ phản ứng khó chấp nhận của con người. Dù thơ văn Trần Dẫn, người ủng hộ thì ít mà số đông phản bác lại gắp nhỉ lần nhưng Trần Dần vẫn im lặng, kiên trì con đường đã chọn dù biết nó sẽ ẩn chứa nhiều rủi ro và cả nguy cơ bị zẩy chay - nghĩa là nhiều khả năng không được giới văn học và độc giả đẻ mắt tới, hay nói cách khác có thể “làm biến mất thị trường độc giả” [30].
Trần Dằn ghét sự trùng lặp, nghèo nàn trong sáng tạo và nghèo nàn trong tiếp nhận. Ông muốn vượt thoát khỏi tính ước lệ “na ná" giống nhau ấy trong văn chương, tự giải phóng mình khỏi những giá trị cũ để hiến dâng những giá trị mới mẻ hơn. Điều này không phải văn nghệ sĩ nào cũng ý thức được, bởi đẳng sau sự ý thức người sáng tạo còn cẩn đến bản lĩnh để thực hiện. Nói vậy, không phải ngay từ ban đầu đến với văn chương, Trần Dần đã có thể để con chữ tự làm nghĩa mả ông phải trải qua cả một quá trình thai nghén công phu.
Trong suốt hành trình sáng tác thơ văn, ông luôn đặt ra câu hỏi thường trực: Viết nhưthế nào? Nếu viết không khác người ta thì đừng viết. Con người cách tân trong ông luôn tìm tòi hướng đi mới, mọi cái đều. phải mới, mới đến mức cực đoan: Mới! Mới! Luôn luôn Mới Bay cho cao Bay cho xa Trên những vết gid nua cũ kỹ Trên lễ đường han rỉ Vượt ngày hom nay Vượt ngày mai, ngày kia Vượt mãi. [86] Quan niệm của ông “lam thơ là làm chữ.
Con chữ nó đẻ ra nghĩa, sẽ được nhiều nghĩa. Cái biết rồi là nghĩa, cái chưa biết là chữ. Nếu làm thơ mà làm nghĩa rồi mượn chữ để diễn đạt nghĩa thì nghĩa sẽ hẹp. Cái chưa biết mới là cái thăm thắm, cái chưa biết chính là cái mới” [40,tr.
Chính xu hướng. tìm cái mới và ý thức phê phán tích cực của Trần Dần đã giúp ông bứt phá. trên từng con chữ. Cái mới trong con chữ của Trần Dần được ông thử nghiệm trong sự tương tác với những con chữ khác, đặc biệt là những hư từ, những từ trong, Tiếng Việt bị cho là không có nghĩa mà chỉ có chức năng kết nổi các thực từ.
có nghĩa trong câu. Ông cho rằng, khi Nguyễn Du viết “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” là Nguyễn Du dang làm nghĩa "Nhưng câu: *Mai sau dù có bao giờ” là làm chữ, khai sinh ra chữ [40. 'Cả câu thơ chỉ toàn là hư từ nhưng nó vẫn da nghĩa, đa cảm; sức gợi của nó thật ghê gớm khiến người ta phải suy tư, trăn trở trên nhiễu lớp nghĩa Ấy. Cách lý giải, lập luận của Trần Dần dẫn đến thái độ ứng xử của ông với con chữ để ông làm chữ và làm nghĩa.
Ông chấp nhận hy sinh vì con chữ, vì văn chương. Công trình đảm quốc ngữ lẻ loi mà kiên trì của ông dường như. không lúc nào ngưng nghỉ. Và những con chữ nào đã qua tay ông đều may.
mắn, đều trở nên có sinh khí, mang một cuộc đời mới với nghĩa tự sinh. Khó có thể hình dung những từ ngữ hết sức bình thường, quen thuộc lại trở nên súc tích, đa nghĩa gợi nhiều sự liên tưởng phong phú khi được ông thể hiện trong thơ văn. Đọc câu thơ "Họ cứ vu oan mặt trời ngủ” hay “Chết đi tôi vẫn mắt ngủ” [87] mới thấy sức ám gợi của con chữ Trần Dần thật sâu sắc. Từng câu thơ, câu văn như thế được ông viết để thử nghiệm nhằm đổi mới con chữ, đổi mới văn chương.
Chính vì vậy, chỉ có Trần Dần mới thể hiện những thử nghiệm độc đáo: thơ -tiểu thuyết (Céng tinh), tho - hồi ký (Con trắng), thơ mini, thơ - họa (7hơ không lời - Mây không lời). biên các thê loại. Mới thủ pháp biến tấu âm, biến tấu chữ đều được Trằn Dần thể nghiệm ‘Ong xem xét từng khả năng sinh nghĩa của chữ để con chữ phát ra nhiều nghĩa. Với quan niệm “Biển giấu sâu.
Trời giấu rộng. Chữ giấu nghĩa” [15], Trần Dẫn luôn chủ động viết it, viết ngắn mà gợi được liên tưởng nhiều nhất, sâu sắc nhất. Những năm cuối đời, ông tiếp tục thử nghiệm chữ trên thơ mini, loại thơ cực ngắn, mỗi bai chi có một câu, một dòng, thậm chí có khi chỉ một chữ với mong muốn “đưa ra một loại thơ mới, trọng cái chữ hơn” [43] ‘Trin Dần không chấp nhận cái cũ. Ông đòi hỏi văn chương phải sát với thực tế cuộc sống.
Đặc biệt, viết về chiến tranh cần phải đúng với sự thật, không tô hồng, không giả dối để nặn ra những anh hùng chỉ biết xông pha, tiến lên, chấp nhận hy sinh một cách đơn giản. Vì vậy, ông phê bình chính văn ông. Ngay khi vừa viết xong Người người lớp lớp, cuỗn tiểu thuyết ông. đã phải lao tâm lao lực, Trần Dần đã cảm thấy “chán rồi.
Tại vì rằng tôi ít thấy sự thực của chiến tranh trong đó quả. Và vì rằng tôi ít thấy sự thực của. tản thân tôi trong dé quá. Chưa phái là chiễn tranh, chưa phải là tôi." [76 Không ngần ngại phủ nhận tác phẩm của mình là cách đẻ Trần Dẫn vượt lên, tiếp cận với những điều mới mẻ đang chờ khám phá ở phía trước.
Vì vậy, những gì khó đưa vào thơ văn nhất đều được ông thể nghiệm trong sáng tác của mình một cách công phu, tỉ mỉ chỉ vì nó cần thiết cho đời sống, cho mọi người. Bởi vậy, văn chương Trần Dần luôn mới mẻ, hiện đại, đầy ắp các thông tin thời sự, chuyện chính trị, xã hội, những chuyện hằng ngày hằng giờ gần gũi với cuộc sống con người phố phường hiện đại. Với ông, thơ văn cần. phải “theo sát cái hồi hộp, lo lắng của Đảng tôi, dân tôi, triệu triệu quả tìm dân chúng và quân đội, chiến sĩ và cán bộ, lãnh tụ và quần chúng” [11,tr.
Va dé phan ánh hiện thực cuộc sống đa chiều trong xã hội hiện dại, Trần Din còn chú trọng đến không gian của thành thị, không gian phố phường với những con đường, những ngã tư, những chân trời, chân mây mang đậm tính ẩn dụ về cuộc đời, kiếp người phù vân, những kiếp nhân sinh lạc loài đầy rẫy những bắt công may rủi, ngẫu nhiên khôn lường. Cho nên, sáng tác của ông, nói chung và tiểu thuyết Những ngã # và những cột đèn nói riêng không những khiến ta cảm nhận thường trực cái hơi thở gấp gáp, tính chất đa âm của cuộc sống, của con người hiện đại mà càng khiến ta kinh ngạc hơn bởi phương thức tư duy hiện đại trong sáng tác của ông gắn liền với không gian phố thị từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi không gian này còn rất hiểm hoi trong văn học. Chính quan niệm văn chương phải sát với thực tế, phải tự đổi mới để vượt qua bóng mình của Trần Dần đã làm cho các sáng tác của ông luôn mới và độc đáo. 'Văn chương Trần Dần luôn biến động, luôn thúc giục đấu tranh, luôn phủ định để sáng tạo như chính bản chất của nó và cũng là bản chất đời sống.
sôi động đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Từ sự lao tâm khổ tứ cho mỗi con chữ, khiển thơ văn ông vắng bóng những thứ tạp âm khác. Thơ văn Trần Dần. không vì chính trị, không vì bắt cứ cái gì khác ngoài văn chương mà chỉ có các con chit én diắng để trả chữ về với giá trị đích thực của chữ và trả thơ ca lại với tính thắm mĩ thuần khiến của nó.
Phải chăng, sống vì văn chương, vì con chữ là thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc giúp ông vượt qua bỉ kịch cuộc đời, tìm đến những miễn đất còn nhiều khoảng trống để thử nghiệm? Xuất phát từ ý thức muốn đem đến cho người đọc những khám phá thú. vị về con chữ, rộng hơn là ngôn ngữ Việt trong lĩnh vực văn chương, Trần Dần đã thử nghiệm ngôn ngữ ở nhiều cấp độ, nhiều phương diện. Đối với là đưa các con chữ vào cuộc phiêu lưu mới. Biểu hiện ban của việc làm mới ngôn ngữ được ông chú trọng qua từ ngữ, hình ảnh, lối diễn đạt mới trong thơ, trong văn xuôi cho đến những thử nghiệm ở từng con âm, những khoảng trắng không lời trên tiểu thuyết, trên thơ thị giác và cả với thơ.
mỉ ni "Ngay từ khi sáng tác tiểu thuyết Người người lớp lớp, con chữ trong tay ông đã bị đầy lên cực điểm để trở thành những con chữ biết nói, hiện lên cùng sự trăn trở và cựa quây cùng nỗi đau của con người: No rung lên bần bật, răng nghiền tưởng chừng như đã rụng. lấy hết gân sức, người co quắp lại làm như một khối đá tảng cứng đờ, con quỷ sốt không chuyển được No nữa. Một lúc, No mệt quá thiếp đi. Giấc mê nóng hằm hập.
No thấy một lũ quỷ đốt làng lửa bốc lên ngần ngậU Loáng cái là lũ quỷ có súng, đầu trâu mặt ngựa cằm dude, giáo mác nhảy tíu tít! Chúng xiên từng đứa trẻ, đốt từng đống rơm! Loáng. cái thì lại là bọn chánh, phó lý! Loáng cái là bọn lính Pháp mũ bọ hung lông lá sồm soàm! Chúng nó múa, đốt!. Lửa nóng quá!