CHƯƠNG 1 CUQC DOI VA SU NGHIỆP SÁNG TÁC CUA. NHA THO XUAN HOANG 1. Quê hương và tuổi thơ. Xuân Hoàng (1925- 2004) tên thật là Nguyễn Đức Hoàng, quê gốc ở Phước Hòa, Tuy Phước, Bình Định (gần mạn Gò Bồi quê ngoại của nhà thơ.
Nhưng xóm Câu, Đồng Hới, Quảng Bình lại chính là qué me Cái làng Đồng Đình mà Xuân Hoàng thường gọi thành Động Đình Hồ nằm. ngay giữa phố thị, bên cửa sông Nhật Lệ ấy là nơi nhà thơ sinh ra và đã nuôi lớn nhà thơ “trong lời rự của sóng”, noi mà những năm tuổi thơ ông đã "được ngắm những cánh buẳm trắng no gió căng phình uốn cong vút trên những. chiếc thuyền chở cá về làng vào buổi chiều. Gió nằm thôi lên từ biển thật ngop.
Dai cát bên kia sông cứ sáng chỏi nắng vàng bên cạnh những lùm cây xanh rì bóng mắt, che din những mái ngói đỏ tươi, những chòi rở chơi vơi một cách vững vàng trên mặt nước. Nước sông ở đây xanh một màu xanh thật la. Cảnh sắc ấy cũng đã hòa vào thơ ông: Quê hương tôi dn hién lành xinh dep Sông rất xanh cửa biển mở chân trời, Những động cát vàng ngói hông chen lá biếc, Một dãy thành rêu ấm nắng phơi (Gửi quê hương chiến đấu). Nhà thơ Xuân Hoàng từng nói rằng: “Người ta sinh ra ai mà chẳng có quê hương.
Chính từ quê hương của tối thơ mà chúng ta di dẫn vào khái niệm hoàn chỉnh vẻ đất nước nói rộng ra, về Tổ quốc.5] Dòng sông Nhật Lệ trong xanh qua cái nhìn của ông đường như có một vẻ đẹp riêng: " nước sông ở đây xanh một màu xanh thật lạ. Nhìn ra cửa lạch, gọn đèn biển chất ngất trên động cát in hình dáng mảnh đẻ vào nền không gian xanh biếc, ở đó những đám mây trắng thường hòa lẫn vào những con sóng bạc chập chòn, hắt tan lại hiện, hết hiện lại tan không cùng không tận trong một sự đuổi bắt thầm lặng, diệu kì. Hình như chính những ước mơ mông lung của tuổi thơ tôi cũng đã bắt đầu hình thành ở đó, ở phía cudi của biển xa lạ mà thân quen kí” [26,tr.34] Và cũng chính bién noi qué hương đã giúp ông ngày càng trải nghiệm "' Đời là một biển sóng muôn trừng. Còn tối chỉ là con thuyển lênh đênh trên biển sóng đó.
Các bến bờ chờ đợi bao giờ. cũng còn ở xa, bao giờ cũng ở ngoài tằm tay với và thường là ở ngoài tằm mắt bao quất chân trời của minh.43] Cũng như nhiều văn nhân khác, trong cuộc đời của mình Xuân Hoàng đã từng đi và sống ở n nơi, nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn, còn hết đời ông gắn bó máu thịt với quê hương Đông Hới- Quảng Bình. Trên quê hương ấy, Xuân Hoàng đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống. Mi, cũng như những năm tháng hòa bình dựng xây trong gian khó.
Xuân Hoang yêu quê hương và gắn bó máu thịt với nó. Ông nhớ từng con đường, ngõ phố trong thị xã Đồng Hới: Tôi thuộc hết tên đường trong thị xã "Những con đường mang những tiếng thân yêu: Đường Lê Trực sớm chiêu thường rộn Lê Thành Đông xưởng mộc, biển sơn treo, Léi cô Tám rẽ ngang về bén cho, Đào Duy Từ kè vững mở tằm khơi, Lâm Ủy vẫn cười kia bên nẻo phổ, Quách Xuân Kỳ cũng hẹn xuống đường vui (Gửi quê hương chiến đấu) 'Có thể nói, tình yêu Xuân Hoàng dành tặng hết cho quê hương được đúc. kết lại qua tập thơ “ Thơ gửi Quê hương”. Và nhiều tập thơ khác nữa.
Xuân Hoàng đã hiến trọn tài năng, sức lực của mình cho quê hương Quảng Bình yêu dấu. Trên mảnh đắt kiên cường và gan góc này hằu như ở đâu cũng in dấu chân nhà thơ. “Xuân Hoàng sinh ra trong một gia đình có ông nội từng đỗ cử nhân sau một thời gian học trường hậu bổ, ông được bổ làm tri huyện, huyện Hòa Da, Bình Thuận, miền cực nam xứ Trung Kì. Ít lâu sau ông được cắt nhắc lên làm.
chức Án sát ở Bình Thuận. Nhưng do có sự liên hệ với một số sĩ phu yêu. nước ở Nam kỳ, bị bọn quan chức bí mật tố giác, nên bên Tây t giám sát tất kĩ. Sống dưới sự o ép ngột ngạt, cảng ngày ông cảng nhận ra tính chất nô.
lệ của người công chức quan lại. Có tài bốc thuốc làm thơ ông xin từ quan ở. cái tuổi năm mươi, làm kẻ nhàn du, làm khách văn chương, bốc thuốc cứu. người nghèo không lấy tiền.
Mặc dù không được sống cùng ông, chỉ gặp ông. một lần lúc lên ba và chỉ nghe kế lại, nhưng hình ảnh ông nội vẫn để lại ấn tượng rất sâu trong cuộc đời nhà thơ. Ông ngoại Xuân Hoàng lại là một ấm sinh. Ông học giỏi nhưng không ham thi cử, lấy sách làm bạn, ông chịu khó đi nhiều, để lùng sục hỏi mua sách.
Ông say mê với thú đọc sách và bổ sung không ngừng tủ sách của cha. Cũng bởi chính cái tủ sách của ông ngoại để lại đã làm Xuân Hoàng thần phục và choáng ngợp, tuy phai “kink nhỉ viễn chi”, ma vẫn vô cùng say mê. Và chính tủ sách dé sộ đó đã đem lại nguôn trì thức phong phú làm hành trang cho cuộc đời và tâm hồn thơ Xuân Hoàng. Ông sớm tự ý thức được rằng: *.
bằng cái trí khôn nhỏ bé của mình, có chăm học mới đọc được chữ, mới đọc được sách, mới khám phá được bao nhiều điều bí mật dn dấu đằng sau hai mươi cái tú sách day dp, hdp dẫn kia.55] Thân mẫu Xuân Hoàng là con út trong gia đình, bà thông chữ nho có thể đọc được các sách Hán Nôm. Từ năm lên chín, bà thường được ông ngoại rồi các cậu kèm cặp, dạy chữ. Trong sáu năm học chữ nho ở nhà bà không chỉ thuộc lòng Tứ thư, Ngũ kinh, mà còn thuộc nhiều thơ Đường và các truyện, sách khác. Bà còn học và đọc được cả sách chữ quốc ngữ.
Bà thường lấy Truyện Kiều, Chỉnh phụ ngâm, Thu dạ lữ hoài ngâm ru các cháu. “Xuân Hoàng đã lớn lên trong lời ru của me. Sống trong môi trường ấy, Xuân Hoàng cũng được học chữ nho từ nhỏ; tốt nghiệp bậc tiểu học ở Đồng Hới, ông vào Huế theo tiếp bậc trung học. Ở đất thần kinh này, Xuân Hoang may mắn được tiếp xúc với những thầy giáo nỗi tiếng như Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh, Hoài Thanh.; và được giao.
ưu với bạn bè cùng lứa tuổi trong không khí thơ ca của thời đại hi giờ. Với vốn học vấn ấy Xuân Hoàng đã có một hành trang kiến thức và trí tuệ để khi về quê nhà Đồng Hới tự tin bước vào nghề dạy học. Yêu thơ từ nhỏ, ông đã tập làm thơ từ năm lớp ba tiểu học, rồi cũng từ đó đường đời thủy chung. với đường thơ cho tới tận sau này.
Nhắc về những miền quê đã tác động đến hồn thơ Xuân Hoàng mà không nhắc tới Huế cũng là một thiếu sót. Như trên đã nói, thời trẻ ông đã từng sống ở Huế. Sau ngày nước nhà thống nhất, hơn mười năm (1976-1989), ba tinh Quang Binh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, sáp nhập thành một tỉnh lấy tên là Bình Trị Thiên. Xuân Hoàng lại trở vào Huế công tác ở Hội Văn học.
Cũng như bao thi nhân khác, Xuân Hoàng nặng lòng yêu Huế, để khi đi xa, ông đã có riêng một tập 7hơ tình gửi Huề với những Một chiểu cổ đô, Đây trăng Vĩ Dạ, Hát vẻ sông Hương, Những đêm Huế khi xa, Giã từ mưa.giúp nói hộ lòng mình. Hãy đọc một khúc “ Thơ xuân tặng Huế của “Xuân Hoàng, sâu lắng ky niệm, bồi hồi và “rất Huế” xiết bao: Tôi đi kháng chiến hai lần Trở về: Huế vẫn trong ngần trời xanh Vain von cay Huế thanh thanh Vẫn mây vay khỏi xây thành vào xuân ương sen vẫn ngắt mặt đâm xôn xao chút hương t tuổi hoa Bài hồi quên buổi cách xa. -Xuân ơi, nhắc tháng năm tà mà chỉ? 1 'Những chặng đường đời của một nhà thơ- chiến sĩ Cũng như nhiều thanh niên trí thức cùng thế hệ, với tâm hồn lãng mạn, Xuân Hoàng vừa dạy học kiếm sống, vừa yêu thích thơ văn. Vì vậy, con đường học tập cũng không mắy suôn sẻ, một trong những bài thơ đầu tiên, ông viết về quê hương, nhưng cũng gửi gắm tâm trạng, bài thơ Động Đừnh Hồ, có đoạn: Động Đình Hà! Động Đình Hà Nang vàng, trăng biếc, mộng san hô.
Thu sương nương cầu Cô Tô Liễu mềm, lụa súng, bướm ngô rụng vàng. Đây thôn buôn! Đây thôn buẳn. Đây thôn vạn cổ hoàng hôn tím sẵu "Người di đâu? Người đi đâu? Lang thang giỏ bụi bạc màu tóc xanh? Đừng chân lại dưới lều tranh Chàng th nhân sầu bên mành: Rượu thẳng ngày một mình nghiêng ngả Nợ bút nghiên, chàng không trả nữa Dong tho cuối vừa bày tỏ thái độ, vừa như một lời tiên cảm. Năm 1945, hai mươi tuổi Xuân Hoàng làm đơn xin vào học lại trường Việt Anh ở Huế với quyết tâm lấy bằng tốt nghiệp Trung học.
Nhưng chưa kịp thỉ thì tình hình chính trị thay đổi. Trong hồi ký của ông đã ghi lại: “ Nửa đêm tôi đang. ngủ ngon bằng bị đánh thức bởi nhiều tiếng súng nồ khắp nơi trong thành nội. Chiếu (một người bạn thân của Xuân Hoàng) bổng bật lên một nhận xét đột ngột: Không khéo Nhật Pháp bắn nhau!”.
Ở Việt Anh chúng tôi không còn thiết học hành gì nữa, chuyên đi săn lùng những tin tức ngày một phức đạp hơn.287] Trước tình hình đó, "nợ bút nghiên” không thể trả nữa, nhà thơ trở về quê nhà, chuỗi ngày hoạt động cách mạng “trả nợ nước” bắt dầu. Tháng 3 năm 1945, Xuân Hoàng tham gia vào Đoàn Thanh niên cứu quốc tại thị xã Đồng Hới, phụ trách công tác tuyên truyền, chuẩn bị cho cuộc. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945. Công việc đầu.
tiên là tham gia điệt giốc đổi- một trong ba nhiệm vụ cắp thiết của cách mạng hồi bẩy giờ. Xuân Hoàng theo những người đi bién dé day chữ cho họ ngay trên thuyền, giúp họ biết chữ để có thể hiểu và giác ngộ cách mạng. hái nhiệt tình tham gia mọi nhiệm vụ được cách mạng phân công: Dạy học ở trường tiểu học Bảo Ninh, Đồng Hới. Làm cán bộ thông tin tuyên truyền ở huyện Quảng Ninh và thị xã Đồng Hới.
Kháng chiến chống Pháp bùng nỗ, “Xuân Hoàng hòa vào dòng người kháng chiến, sáng tác thơ văn kịp thời động viên tỉnh chiến đấu của quân dân tỉnh nhà.