Chương 1 THƠ VI THÙY LINH TRONG DONG CHAY CUA THO VIET NAM SAU 1986 1. Thơ Việt Nam sau 1986 — Nhiing sic mau nghệ thuật mới 1. Những đỗi mới về quan niệm nghệ thuật Khái niệm quan niệm nghệ thuật đã được sử dụng khá phổ biến trong phê bình và nghiên cửu văn học, tuy nhiên nội hàm của nó cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất cao trong giới chuyên môn. Theo Lê Bá Hán, “quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thể giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó [10, tr 273].
Quan niệm nghệ thuật thể hiện giới hạn aa trong cách hiểu thể giới và con người trong hệ thống nghệ thuật, thể biện khả. năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó. Theo Trần Đình Sử, quan niệm nghệ thuật là "giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật, nó thể hiện một hiện tượng khách quan là thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí giải của con người” [34 t 21]. Như viy tin thin cơ bản của khái niệm quan niệm nghệ thuật là cắt nghĩa, lí giải hiện thực của nhà.
văn trong tác phẩm: Mỗi một nghệ sĩ khi sáng tạo, dù tuyên ngôn hay im lặng,đều viết dưới nh sing của một quan niệm nghệ thuật nào đó. Quan niệm này chỉ phối trực tiếp tư duy thơ, khúc xạ lên hình ảnh, biểu tượng, đỗ bóng lên cái tôi trữ tình và in dấu vào ngôn ngữ. " Công cuộc đổi mới năm 1986 đã đem đến cho văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nỗi riêng những đỗi thay rất lớn trong việc khám phí phản đánh hiện thực - ign thực đời sống, hiện thực tâm trạng. Khái niệm đổi mới là một tiêu chí được đề cao trong xã hội ngày nay.
Để có sự vận động và phát triển, thơ cũng không nằm ngoài quy luật đó. Lớp nhà thơ trẻ xuất hiện sau 1975, đặc biệt là từ sau năm 1986 chiếm số lượng rất đông đảo, tạo thành một mặt bằng ới, rộng ri cho sự phát triển của thơ hôm nay. Hơn một nữa số thơ đã xuất bản là của các tác giả thuộc thế hệ này. Điểm nỗi bật ở các sáng.
the của họ là sự đa dạng, trẻ trưng, trơi mối và giãu chất trĩ tệ. Nhiều người ‘quan tâm đến thơ cho rằng những thay đổi thực sự về nội dung và giọng điệu của thơ hiện đại sẽ được làm nên bởi lớp các nhà thơ trẻ này. Họ thực sự là những người lâm chủ thí đàn đương đại 'Văn học là tắm gương phản ánh hiện thực. Mỗi thời kỉ lịch sử lại mang.
én cho văn học những để tải, những nội dung khác nhau cũng như để ra cho văn học những yêu cầu khác nhau. So với văn học giai đoạn trước 1986 thi văn học giai đoạn từ 1986 đến nay có sự đổi mới rất lớn trong quan niệm phản ánh hiện thực. Đổi mới ở đây không có nghĩa là li khai với truyền thông. Việc đổi mới nay là hệ quả của việc tiếp thu những ảnh hướng của thơ ca phương Tây trong quá khứ và đương đại, là sự tiếp bước những người đi trước, đồng thời nó.
cũng in dấu bản lĩnh, bản sắc của các nhà thơ trẻ Việt Nam. Ta có thể thấy điều này trong sự đổi mới về đề tài nội dung, chủ đề của các tác phẩm. Đổi mới thơ bắt đầu từ việc đổi mới quan niệm về thơ và nhà thơ “Trong thời kì đấu tranh cách mạng, thơ chủ yếu được coi như một thứ vũ khí sắc bén, một phương tiện để kêu gọi, tập hợp sức mạnh tỉnh thần của quin “ chúng nhân dân. Nay, thơ là một phương tiện tự thẻ hiện, đáp ứng nhu cầu tự.
khám phá của con người. Theo Nguyễn Hữu Hồng Minh, "thơ trong thời đại mới không còn băn khoăn đến những vin đề quá rõ rằng, những sự việc ai cũng thấy và nắm bắt được. Thơ không là sản phẩm trực giác, không là phiên bản hiện thực, không phải lúc nào cũng cắt nghĩa cụ thể” [43, tr 432]. Còn theo Phan Huyền Thư thì “những điều thơ trẻ hôm nay muốn nói rit da dang, phông khoáng và tự do, thậm chí hơi bị xa xăm mi mit.
Thơ trẻ coi trọng sự thành thực, thành thực với mình và với người, nó không cần phải giả bộ đoan trang" [43, tr 432] “Các nhà thơ sau 1986 đã xác lập trở lại những giá trị bị đánh mắt của tho, trong dé đáng ch ý nhất là ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong thơ thường được coi như một phương tiện truyền tải chứ chưa xem nó là một phương tiện sng tạo. “Đồ là một sự bỏ quên rất đáng cảnh tỉnh. Cái chết của một nhà thơ là cái chết của chữ và sự bắt tử của họ cũng do chính từ trường của những con chữ của họ tạo nên” [43, tr 433].
Phan Huyền Thư luôn tâm niệm: “Khi đặt bút viết thì có nghĩa là lang cố gắng tạo ra một giá trị mới cho ngôn ngữ”, còn Ví Thủy Linh thì tự nhận thấy “minh li ngudi chi công cho việc sáng tạo "hình ảnh và ngôn ngữ” [43, tr 433]. “Cổ lẽ không khó khăn lắm để nhân m rằng nhiều cây bút thơ hiện nay "không còn thỏa mãn với lối viết, với hệ thì pháp đã định hình và dường như đang biển thành lỗi môn. Theo các tác gid Trần Dẫn, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng thì đặc trưng của thơ không nằm ở tính năng xã hội mã ở trong chất liệu ngôn từ. Ngôn từ trong thơ không phải đơn giản là công cụ để diễn nghĩa, tải ý tưởng, Sức hắp dẫn muôn thud cia thi ca la kha năng gợi.
Cho nên họ chủ trường xem những yếu tổ hình thức cảm tính của ngôn từ như âm. vang, đường nét là vật liệu của thơ. Chỉnh quan niệm nảy sẽ dẫn đến những. B phá cách trong việc cấu trúc bài thơ.
Các nha thơ này đặc biệt chú ý khai thác. yếu tổ ngữ âm tong câu thơ, bài thơ. Hiệu q muốn đạt được là nhạc tính. “Các nhà thơ hiện nay khác xa với thể hệ đần anh, din chi.
Theo ¥ Nhi thì “các nhà thơ trẻ không còn những lo âu, rằng bu, của thể hệ trước. Không ai hỏi họ vì sao không làm thơ không vẫn, thơ 2 câu hoặc 3 cầu. Không ai phê phán họ vì sao chỉ viết thơ tỉnh.Thế hệ này nói chung được học hành từ tế, được tiếp xúc với văn hóathể giới rộng rai, Nghia la ho đủ điều kiện để bộc lộ tài năng và có thể tạo nên những bùng nổ, những chuyển biến” J43, tr 433]. Họ trẻ tuổi và trẻ trừng trong ý nghĩ, trong quan niệm và trong sắng tạo nghệ thuật.
Họ táo bạo và bản lĩnh. Khát vọng tim đường của họ vô cùng mãnh liệt vì họ muốn được khẳng định bản ngã của "mình. Lúc nào trong họ cũng cháy rực ngọn lửa đam mê, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có là mục đích của họ. Lớp những nhà thơ bối đã đặc biệt lưu tâm tới sử mệnh thiêng liêng của nhà thơ đám đông.
Nhà thơ là người phát ngôn cho công đồng, là người lĩnh xưởng, là nhạc trưởng của cả dân đồng ca, người định hướng, thuyết giảng người đọc. Các nhà thơ sau 1986 đã thiết lập lại các mỗi quan hệ giữa nhà thơ và công chúng. Đó là quan hệ hoàn toàn dân chủ và bình đẳng. “Chính những quan niệm nêu trên đã dẫn đến sự thay đổi tắt yếu của thơ trẻ cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện.
Những thành tựu bước đâu. Tir sau dai hội VI của Đảng 1986 đến nay, nền văn học đã có bước chuyển mình và đạt được những thành tưu đángghỉ nhận. Cụ th là, giữa văn học và đồi sống có sự gắn bó chặt chẽ hơn. Vai trở chủ thể của nghệ sĩ được.
coi trọng và phát huy mạnh mẽ. Có những tài năng mới xuất hiện đã gây được tiếng vang tích cục trong dư luận 'Về nghệ thuật, thơ sau 1986 đi sự biến đổi về thể loại. Điễu này được biểu hiện cụ thể bằng sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống, sự xuất hiện thơ tự do, thơ văn xuôi và sự nở rộ của trường ca. Ngôn ngữ thơ vừa đâm chất đời thường vừa giảu chất tượng trưng.
Mặc dù thơ tự do và thơ văn xuôi là bai thể thơ chiếm ưu thể trong đời sống thơ ca sau 1986 nhưng trên thực tế, các thể thơ truyền thống như thơ lục bát, thơ 5 chữ, 7 chữ vẫn tổn tại. Tuy nhiên, so với trước đây, c thé thơ trên không cồn “nguyên bản” mà đã có những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong, Tho 5 chữ và 7 chữ trước đây gắn với kỹ thuật gieo vẫn và nhịp điệu thơ thường kha ém ä. Đến giai đoạn sau 1986, tính "điệu nói” được gia tăng thêm một mức nữa và cấu trúc thể loại tựa vào nhịp nhiều hơn tựa vào vằn, song điện the gin guốc hơn, các liên tưởng thơ ít tuần theo quan hệ nhân - qua hơn. Riêng về thơ lục bát, đã có những nỗ lực cách tân về việc bài trí văn bản.
Tiêu biểu là loại lục bất xuống dòng theo hình thức bậc thang và hiện tượng ngất dầu giữa ding. NI bài thơ lục bát được bố trí theo kiểu thơ tự do, Sự thay đổi giọng điệu trong thơ cũng là một hành tư đáng quan tâm. Bén cạnh chất giọng bụi bặm, suồng sã đời thường, nhiều cây bút lại có ý thức đưa ngôn ngữ đậm chất tượng trưng, siêu thực vào thơ lục bát khiến cho Is thể loại này không chỉ hồn hậu mà còn có khả năng biểu đạt những tâm thức. sâu thẳm của người hiện đại.
“Tính hiện đại trong thơ gắn liền với sự hiện điện mang tính áp đảo của thơ tự do và thơ văn xuôi so với các thể thơ khác. Điều này xuất phát từ ba lý do cơ bản: Thứ nhất, thơ tự do và thơ văn xuôi cho phép nhà thơ triển khai tự do hơn những phức hợp cảm xúc của cá nhân. Thứ hai, thơ tự do và thơ văn xuôi thể hiện sự giao thoa thể loại, trong đó đáng kế nhất là ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thí ca. Thứ ba, việc tìm đến thơ tự do và thơ văn xuôi khiến.
cho giọng điệu thơ không còn êm ái, mượt mà như trước mà trở nên thd rip hơn, nhịp điệu thơ mang nhiễu tỉnh bắt ngờ hơn. “Trong thời đại ngày nay, khi mà hình thức tự sự, nhất là tiểu thuyết đang hiện lên như nhân vật chính trên sân khấu văn học thì ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thơ là điều dễ hiểu.