Tổng quan nghiên cứu
Trải qua hơn 130 năm kể từ ngày danh thần Giá Viên Phạm Phú Thứ (1821 - 1882) qua đời, việc nghiên cứu toàn diện về di sản của ông đã có bước ngoặt quan trọng khi bộ sách "Phạm Phú Thứ toàn tập" được công bố năm 2014 với quy mô đồ sộ gồm 13 tập thơ và 13 tập văn xuôi. Trước đây, giới học thuật chủ yếu nhìn nhận Phạm Phú Thứ ở góc độ một nhà chính trị, nhà canh tân thời Nguyễn với 40 năm chốn quan trường, 18 lần thay đổi chức vụ và 4 lần bị giáng chức. Tuy nhiên, mảng văn chương chữ Hán – đặc biệt là thế giới nghệ thuật thơ ca của ông – vẫn chưa được khảo sát hệ thống, dẫn đến khoảng trống lớn trong việc đánh giá vị thế tác gia chuyển tiếp giữa hai thế kỷ XIX và XX.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã ngành 60 22 01 21) tại Đại học Đà Nẵng của tác giả Trương Thị Minh Thục tập trung giải mã thế giới nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ, xác lập hệ thống hình tượng nghệ thuật, chủ thể trữ tình và các phương thức biểu đạt đặc trưng. Phạm vi nghiên cứu khảo sát toàn bộ 813 bài thơ chữ Hán trong "Phạm Phú Thứ toàn tập" (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2014), đối chiếu với các tư liệu lịch sử từ năm 1842 đến năm 1882. Công trình nâng cao tỷ lệ tiếp cận văn bản chữ Hán từ mức dưới 20% lên 100% đối với kho tàng thơ Giá Viên, cung cấp khung phân tích chuẩn mực cho hơn 15 đơn vị nghiên cứu và đào tạo văn học trung cận đại tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống thi pháp học hiện đại kết hợp với lý thuyết loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam. Khung nghiên cứu tích hợp mô hình thế giới nghệ thuật, chia cấu trúc tác phẩm thành 3 bình diện trọng tâm: hình tượng cái tôi trữ tình, không gian - thời gian nghệ thuật, và hệ thống thủ pháp biểu đạt.
Bốn khái niệm then chốt được áp dụng xuyên suốt công trình gồm: tính quy phạm và phá vỡ quy phạm, cái tôi thế sự, chất nhật ký - công vụ trong thi ca, và tư tưởng trung quân ái quốc mang màu sắc canh tân. Mô hình này cho phép xem xét 813 thi phẩm không chỉ dưới góc độ mỹ học cổ điển mà còn đặt trong bối cảnh lịch sử biến động từ năm 1858 đến năm 1884 của triều Nguyễn, làm rõ sự chuyển dịch từ tư duy Nho giáo truyền thống sang nhận thức duy tân thực tiễn.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập trực tiếp từ "Phạm Phú Thứ toàn tập" (2014), đồng thời đối chiếu với 3 bộ tư liệu chữ Hán quan trọng triều Nguyễn gồm Đại Nam thực lục chính biên (1848), Đại Nam liệt truyện (1852) và Quốc triều chính biên toát yếu (1908). Cỡ mẫu toàn diện bao gồm toàn bộ 813 bài thơ phân bổ trong 13 tập (tiêu biểu như 314 bài trong Kinh hương thi lục, 89 bài trong Đồng hành thi lục, 82 bài trong Đắc hành thi lục, 68 bài trong Ứng chế thi thảo, 29 bài trong Nông Giang thi lục).
Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng để trích xuất hơn 120 văn bản thơ tiêu biểu nhằm phân tích chuyên sâu. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản với phương pháp thống kê - phân loại và phương pháp so sánh lịch đại - đồng đại. Thao tác thống kê định lượng tần suất xuất hiện của 143 câu đối, các hình tượng vầng trăng, người nông dân, và các địa danh kinh lý giúp luận điểm đạt độ xác thực khoa học cao, tránh sự suy diễn chủ quan. Toàn bộ quy trình thu thập, xử lý văn bản và đối chiếu diễn ra trong thời gian 24 tháng (2013 - 2015).
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, luận văn khắc họa sinh động hình tượng nhà Nho canh tân tiến bộ, kết hợp hài hòa giữa lý tưởng trung quân với tinh thần thương dân sâu sắc. Thống kê cho thấy hơn 65% số bài thơ trong giai đoạn 1850 - 1881 phản ánh trực tiếp nỗi âu lo thế sự, cảnh ngộ nhân dân trước thiên tai bão lũ, dịch bệnh và tinh thần dũng cảm dâng sớ can gián nhà vua.
Thứ hai, nghiên cứu phát hiện sự mở rộng mang tính đột phá về không gian nghệ thuật. Không gian thơ vượt thoát khỏi khuôn viên kinh thành Huế và vùng đất quê hương Gò Nổi - Quảng Nam để vươn ra các tuyến đường kinh lý miền Bắc (Hải Phòng, Lạng Giang) và hải trình phương Tây trong chuyến đi sứ năm 1863 - 1864. Khoảng 58% tác phẩm ghi nhận những chi tiết đời sống chân thực và cảnh quan địa lý trải dài khắp đất nước.
Thứ ba, luận văn chứng minh sự chuyển dịch thi pháp từ tính quy phạm sang phong cách nhật ký - công vụ. Toàn bộ 100% các thi phẩm trong các tập thơ như Tây phù thi lục và Hàm thành thi lục đều ghi chép chuẩn xác mốc thời gian, địa điểm, sự kiện ngoại giao, kinh tế, tạo tiền đề nảy sinh thể loại nhật ký văn học ở giai đoạn tiếp theo.
Thứ tư, công trình khẳng định vị thế của Phạm Phú Thứ như một tác gia có bút lực dồi dào bậc nhất thế kỷ XIX, sở hữu 813 bài thơ cùng hơn 350 văn bản chức năng (tấu, biểu, luận, văn tế, thư khải), thể hiện sức lao động nghệ thuật bền bỉ và toàn diện.
Thảo luận kết quả
Sự độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Phạm Phú Thứ bắt nguồn từ cuộc đời hoạt động thực tiễn sôi nổi qua 40 năm làm quan và chuyến đi sứ phương Tây năm 1863. Bản lĩnh của người con xứ Quảng cương trực, quyết đoán đã định hình nên một giọng điệu thơ thẳng thắn, giàu trăn trở.
So với các tác gia cùng thời như Đặng Huy Trứ (sáng tác hơn 1.200 bài thơ) hay Nguyễn Khuyến (chọn con đường cáo quan về ở ẩn), thơ Phạm Phú Thứ kiên trì lựa chọn con đường ở lại triều đình để phò vua giúp nước, biến ngòi bút thành công cụ đề xuất cải cách và ghi chép hiện thực.
Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng phân loại 813 bài thơ theo 5 chặng đường sự nghiệp (1846 - 1850 với 82 bài; 1850 - 1851 với 29 bài; 1851 - 1854 với 89 bài; 1854 - 1880 với 524 bài; 1880 - 1881 với 89 bài) và biểu đồ cơ cấu đề tài (ngôn chí, thù tạc, tống biệt, thế sự), giúp người đọc theo dõi trực quan tiến trình vận động tư tưởng nghệ thuật của tác giả.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tiến hành số hóa toàn văn và dịch thuật chú giải toàn bộ 813 bài thơ chữ Hán cùng hơn 350 văn bản văn xuôi của Phạm Phú Thứ lên cơ sở dữ liệu số quốc gia. Đề án cần được hoàn thành trong vòng 18 tháng do Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì, nhằm tăng 85% khả năng tiếp cận tư liệu gốc cho các nhà nghiên cứu trẻ.
Thứ hai, đưa các tác phẩm thơ tiêu biểu của Phạm Phú Thứ vào chương trình giáo dục địa phương tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trong vòng 12 tháng. Sở Giáo dục và Đào tạo làm chủ thể thực hiện, hướng đến mục tiêu 100% học sinh bậc trung học phổ thông nắm vững giá trị di sản danh nhân văn hóa vùng Gò Nổi.
Thứ ba, tổ chức chuỗi 3 hội thảo khoa học chuyên đề cấp quốc gia về văn học và tư tưởng canh tân triều Nguyễn giai đoạn 1858 - 1884, triển khai trong giai đoạn 2025 - 2027 do các trường đại học sư phạm phối hợp với Viện Văn học thực hiện, dự kiến thu hút trên 200 bài tham luận chuyên sâu.
Thứ tư, ứng dụng các công cụ phân tích định lượng dữ liệu văn bản (text mining) trên tập mẫu hơn 1.000 tác phẩm Hán Nôm thời Nguyễn, triển khai bởi nhóm nghiên cứu liên ngành trong thời gian 24 tháng nhằm nâng cao 40% hiệu suất xử lý thi pháp tác gia trung cận đại.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam: Tiếp cận khung phân tích thi pháp học hệ thống trên cỡ mẫu 813 bài thơ chữ Hán, hỗ trợ xây dựng hơn 20 đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tác gia văn học thế kỷ XIX.
Nhóm sinh viên và học viên cao học ngành Hán Nôm, Lịch sử: Khai thác kho ngữ liệu đối chiếu giữa thơ văn Giá Viên với 3 bộ chính sử thời Nguyễn, phục vụ trực tiếp cho quá trình thực hiện khóa luận và luận văn thạc sĩ.
Nhóm giáo viên trung học phổ thông môn Ngữ văn và Lịch sử: Sử dụng nguồn văn bản với hơn 50 bài thơ chữ Hán đã được dịch nghĩa để thiết kế bài giảng ngoại khóa, chuyên đề danh nhân lịch sử miền Trung.
Nhóm cán bộ quản lý văn hóa và bảo tàng: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng hồ sơ khoa học, phục vụ công tác trưng bày di sản nhân dịp kỷ niệm 205 năm ngày sinh danh thần Phạm Phú Thứ.
Câu hỏi thường gặp
Phạm Phú Thứ có vị thế như thế nào trong tiến trình văn học Việt Nam thế kỷ XIX?
Phạm Phú Thứ là tác gia lớn với 813 bài thơ chữ Hán cùng khối lượng văn xuôi đồ sộ. Ông đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa văn học trung đại và cận đại, mở đường cho khuynh hướng nhật ký, thế sự và tư tưởng canh tân.
Nguồn ngữ liệu chính phục vụ cho luận văn được trích xuất từ đâu?
Luận văn khảo sát toàn bộ ngữ liệu từ bộ sách "Phạm Phú Thứ toàn tập" do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2014 gồm 13 tập thơ, đối chiếu với 8 trang tiểu sử trong Đại Nam liệt truyện khắc in năm 1852.
Đặc điểm nổi bật nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Phạm Phú Thứ là gì?
Đó là sự kết hợp giữa lý tưởng trung quân với bản tính cương trực xứ Quảng. Năm 1850, ông dũng cảm dâng sớ can gián vua Tự Đức, chịu cảnh lưu đày làm phu trạm nhưng vẫn giữ trọn tấm lòng vì nước vì dân.
Tại sao thơ Phạm Phú Thứ được xem là mang tính chất nhật ký - công vụ?
Các tập thơ như Tây phù thi lục (1863 - 1864) và Hàm thành thi lục (1878) ghi chép chi tiết mốc thời gian, địa danh, sự kiện bang giao và kinh tế theo lối biên niên, vượt khỏi tính quy phạm ước lệ cổ điển.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị ứng dụng thực tiễn ra sao?
Luận văn cung cấp tài liệu giảng dạy cho 2 địa phương trọng điểm là Đà Nẵng và Quảng Nam, đồng thời hỗ trợ tư liệu Hán Nôm chuẩn xác cho việc số hóa di sản văn hóa thế kỷ XIX.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện 813 bài thơ chữ Hán của Phạm Phú Thứ trong bộ toàn tập xuất bản năm 2014.
- Giải mã thành công cấu trúc thế giới nghệ thuật với 3 hình tượng nổi bật: nhà Nho cương trực, không gian quê cảnh đất nước, và người lao động lam lũ.
- Xác lập bước chuyển mình mang tính đột phá từ tính quy phạm trung đại sang phong cách nhật ký - công vụ và phản ánh hiện thực thế sự.
- Khẳng định vị thế của Phạm Phú Thứ là tác gia có bút lực dồi dào hàng đầu thế kỷ XIX với 40 năm sáng tác bền bỉ.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao cho hơn 10 trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành.
Trong giai đoạn 12 tháng tiếp theo, hướng nghiên cứu sẽ mở rộng khảo sát mảng văn xuôi chức năng gồm 55 bản tấu chương và 40 bài văn tế của tác giả. Quý độc giả, giảng viên và học viên quan tâm có thể tra cứu toàn văn tài liệu tại Trung tâm Thông tin - Học liệu Đại học Đà Nẵng để phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu.