Luận văn: Thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ của tác giả Nguyễn Đức Kiệm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xã hội và nhân văn thế giới nghệ thuật thơ đông hồ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Người đăng

Ẩn danh
101
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ Giao thoa kim cổ

Thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ là một miền đất độc đáo trong dòng chảy văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Sinh ra trong buổi giao thời, thơ ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai nền văn hóa, văn học Đông - Tây. Một mặt, ông được nuôi dưỡng tâm hồn bằng “bầu sữa mẹ Tống Đường”, lưu giữ những tinh hoa của thơ ca trung đại. Mặt khác, ông hòa theo dòng chảy chung của thời đại, mạnh dạn cách tân thi tứ với tình yêu và tuổi trẻ mang phong vị “Tây Âu”. Việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ không chỉ là khám phá một tâm hồn đa cảm mà còn là một cơ hội để đào sâu, mở rộng kiến thức về phong trào Thơ mới. Các tác phẩm của ông, đặc biệt là các tập thơ như Cổ gái xuânTrinh trắng, đã khẳng định một phong cách riêng, vừa nghiêm cẩn như một nhà Nho, vừa tài hoa như một thi sĩ lãng mạn. Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn về chủ đề này mở ra một cái nhìn toàn diện, khoa học về những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thơ ông. Từ đó, khẳng định những đóng góp tích cực của nhà thơ vào quá trình hiện đại hóa thi ca dân tộc. Việc nghiên cứu này vẫn còn là một “vùng đất mới”, tiềm ẩn “những chất quặng” chưa được khai phá hết, hứa hẹn mang lại nhiều giá trị học thuật sâu sắc.

1.1. Sơ lược cuộc đời và hành trình sáng tạo của thi sĩ Đông Hồ

Đông Hồ (1906 - 1969), tên thật là Lâm Tấn Phác, sinh ra tại Hà Tiên, một vùng đất nên thơ đã khởi nguồn cho mọi tình cảm thiêng liêng trong ông. Cuộc đời ông trải qua nhiều biến động lịch sử, và đời thơ kéo dài hơn 50 năm cũng đầy thăng trầm. Ông mồ côi sớm, sống dưới sự chăm sóc của người bác ruột, một nhà Nho đạo đức, người có ảnh hưởng lớn đến cốt cách và học vấn của ông. Dù ở nơi xa xôi, Đông Hồ tự học chữ Hán và chữ Pháp, đặc biệt ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nam Phong tạp chí. Ông bắt đầu đăng báo từ năm 16 tuổi và nhanh chóng nổi danh. Các tác phẩm trong giai đoạn đầu như Thơ Đông Hồ (1922-1932) còn mang đậm phong cách cổ điển. Tuy nhiên, hành trình sáng tạo của ông đã có bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt qua các tập Cổ gái xuân (1933-1935) và Trinh trắng (1961), nơi ông hoàn toàn hòa nhập vào dòng chảy của Thơ mới với cái tôi lãng mạn, đa tình và những cách tân táo bạo.

1.2. Nền tảng quan niệm về thơ ca và tiếng Việt của Đông Hồ

Đối với Đông Hồ, thơ ca quan trọng nhất là “xúc cảnh thành thi”. Ông quan niệm thơ hay là thơ làm người đọc rung động, là nơi gặp gỡ của những tâm hồn đồng điệu. Thơ là “tiếng vọng của trái tim”. Tình yêu của ông đối với tiếng Việt là một tình yêu tha thiết, cháy bỏng. Ông đã chứng minh điều đó bằng cả cuộc đời sống và sáng tác, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ để làm thơ, viết văn, biên khảo. Ông nỗ lực vun đắp cho tương lai của tiếng Việt qua vai trò nhà giáo, nhà báo, nhà thơ, với công việc mà ông tự nhận là “vá chiếc áo rách nát của nàng thơ”. Chính quốc văn và tình yêu sâu sắc này đã định hình nên một phong cách thơ vừa giữ gìn được nét đẹp cổ điển của “giọng Hán Thuyên”, vừa tiếp thu những yếu tố hiện đại, tạo nên một bản sắc riêng không thể trộn lẫn trong thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ.

II. Thách thức khi nghiên cứu thơ Đông Hồ và hành trình sáng tạo

Việc phân tích thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ đặt ra nhiều thách thức do tính chất chuyển tiếp độc đáo trong sự nghiệp của ông. Đông Hồ là một trong những nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới, nhưng ông không hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ. Hành trình sáng tạo của ông là một cuộc dịch chuyển phức tạp từ thơ cũ sang thơ mới, từ hình thức Đường luật nghiêm cẩn đến thơ tự do phóng túng. Giai đoạn đầu, thơ ông mang nặng phong thái của một nhà Nho cũ, với những tứ thơ và cảm xúc cổ điển. Tuy nhiên, khi hòa mình vào dòng chảy lãng mạn, thơ ông lại biến đổi, trở nên tươi trẻ, đa tình và táo bạo. Sự đan xen giữa hai yếu tố cũ và mới này, đôi khi trong cùng một tác phẩm, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một phương pháp tiếp cận hệ thống và tinh tế. Phải làm rõ được đâu là sự kế thừa những tinh hoa của “bầu sữa mẹ Tống Đường” và đâu là sự cách tân, thể nghiệm để bắt kịp với hồn thơ hiện đại. Đây chính là điểm mấu chốt để lý giải sự độc đáo trong phong cách và vị trí của ông trong lịch sử văn học.

2.1. Giai đoạn đầu Từ Thơ Đông Hồ đến Bội lan hành

Tập Thơ Đông Hồ (1922 - 1932) là tác phẩm đầu tay, mang đậm dấu ấn của một “nhà Nho cũ”. Dù có những đổi mới về tư duy, hình thức thơ vẫn giữ vẻ nghiêm cẩn của thơ Đường luật. Nội dung xoay quanh cảnh non nước, tình bằng hữu, và chan chứa tình yêu quốc văn. Đến Bội lan hành, dù đã có nhiều thể nghiệm mới mẻ với thơ tự do, câu dài ngắn khác nhau, thơ ông vẫn phảng phất một nỗi u hoài và lưu luyến những nét đẹp của văn chương bác học trung đại. Người đọc vẫn bắt gặp những điển tích, những câu chữ Hán được vận dụng khéo léo. Giai đoạn này cho thấy một Đông Hồ đang ở ngưỡng cửa của sự đổi mới, chân trong vẫn còn vương vấn với quá khứ nhưng chân ngoài đã sẵn sàng bước vào “căn nhà thơ mới”.

2.2. Bước ngoặt đổi mới Cô gái xuân và Trinh trắng

Với Cổ gái xuân (1933 - 1935), Đông Hồ đã hoàn toàn lột xác. Ông trở thành một chàng trai đa tình, với cái tôi cá nhân mãnh liệt và những vần thơ lãng mạn, nhẹ nhàng. Tác phẩm này là bản hòa tấu tươi trẻ với tình yêu và tuổi trẻ, ca ngợi những nỗi lòng của người thiếu nữ. Như Hoài Thanh và Hoài Chân nhận xét, “Đông Hỗ là người thứ nhất đã đưa vào thi ca Việt Nam cái vị bát ngất của tình yêu dưới trăng thanh trong tiếng sóng”. Tập thơ cuối cùng, Trinh trắng, đẩy cái tôi cá nhân đến ngưỡng tuyệt đối. Tình yêu trong thơ ông lúc này trở nên táo bạo, chứa đầy dục tính. Đây là sự thay đổi lớn trong phong cách, một cuộc “bừng trẻ lại” trong tâm hồn, đưa ông sánh ngang với những nhà thơ mới hiện đại nhất như Xuân Diệu hay Hàn Mặc Tử. Hai tập thơ này là minh chứng cho sự thăng hoa và tính hiện đại mãi mãi trong thơ ông.

III. Giải mã các kiểu con người trong thế giới nghệ thuật thơ

Phương pháp cốt lõi để tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ là thông qua việc giải mã các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người. Văn học chính là nhân học, và hình tượng con người trong tác phẩm phản ánh thế giới quan của tác giả. Trong thơ Đông Hồ, con người không đơn nhất mà hiện lên với ba kiểu nổi bật: con người lãng mạn, con người đa cảm, và con người hoài cổ. Đây là dấu ấn của sự tích hợp giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, là sự pha trộn giữa tinh túy cổ điển và hiện đại. Mỗi kiểu người là một mảnh hồn của thi nhân, phản chiếu một khía cạnh trong tâm hồn phức tạp của ông. Con người lãng mạn khao khát yêu đương, con người đa cảm rung động tinh tế trước cuộc đời, và con người hoài cổ luôn hướng về quá khứ vàng son. Việc phân tích ba hình tượng này giúp phác thảo nên chân dung con người trong thơ Đông Hồ một cách rõ nét, sâu sắc và toàn diện, từ đó làm sáng tỏ toàn bộ cấu trúc nghệ thuật của ông.

3.1. Hình tượng con người lãng mạn với tình yêu và tuổi trẻ

Con người lãng mạn trong thơ Đông Hồ trước hết là con người hồn nhiên, trong sáng thuở chưa biết đến hương vị ái tình. Sau đó, tình yêu đến một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, mang hương vị ngọt ngào của những mối tình đầu. Không gian lãng mạn thường là “dưới trăng thanh, trong tiếng sóng”, nơi tình yêu được chắp cánh. Đặc biệt, con người lãng mạn của Đông Hồ rất hiện đại trong việc biểu lộ cảm xúc. Họ không chỉ mơ mộng, nhung nhớ mà còn mạnh mẽ, táo bạo trong tình yêu, dám đòi hỏi và hưởng thụ hạnh phúc. Yếu tố dục tính được thể hiện một cách tinh tế, nghệ thuật, không thô thiển, như một bức tranh nude đầy thẩm mỹ. Những vần thơ như “Lụa cởi da chiều nỗi tuyết băng / Lân son phơn phới hé môi hồng” trong Trinh trắng đã đẩy thơ ông đến ngưỡng tượng trưng, siêu thực.

3.2. Chân dung con người đa cảm và những nỗi niềm sâu kín

Con người đa cảm trong thơ Đông Hồ thường hay buồn. Đó không phải là nỗi buồn vũ trụ của thơ trung đại mà là điệu buồn đa diện của con người cá nhân. Nỗi buồn ấy có thể là sự tiếc thương trước dòng chảy thời gian, sự mong manh của cái đẹp, hay nỗi cô đơn, ly biệt. Tâm hồn đa cảm này có sự đồng điệu sâu sắc với thiên nhiên và con người. Ông xót thương cho một cành hoa cúc gầy, đau đớn trước cảnh chiến tranh tàn phá. Đặc biệt, con người đa cảm ấy có một tấm lòng nhân ái, biết cảm thông và chia sẻ với nỗi đau của dân tộc. Thơ ông không trốn tránh thực tại mà hướng cái nhìn thương cảm đến cuộc sống, đến những thân phận bé nhỏ. Đây là nơi Đông Hồ thể hiện tấm lòng của một nghệ sĩ có trái tim nhân hậu, luôn rung động trước mọi biến thái của cuộc đời.

IV. Phương pháp thể hiện con người hoài cổ và vị trí của Đông Hồ

Một trong những phương diện đặc sắc nhất của thế giới nghệ thuật thơ Đông Hồ là hình tượng con người hoài cổ. Lớn lên với “bầu sữa mẹ Tống Đường”, Đông Hồ không bao giờ quên đi nguồn cội. Con người trong thơ ông thường hay hoài vọng về quá khứ vàng son của dân tộc, về những giá trị văn hóa truyền thống. Đây không phải là thái độ “xưa tốt nay xấu” của các nhà Nho mà là một cách để tìm về điểm tựa tinh thần trong một thời đại đầy biến động. Ông tự hào về lịch sử, về nền văn hóa học thuật nước nhà, và kêu gọi gìn giữ nếp Nho phong. Hình ảnh hoài cổ này tạo nên một chiều sâu độc đáo cho thơ ông, khiến ông khác biệt với nhiều nhà thơ mới cùng thời. Chính sự kết hợp giữa lãng mạn hiện đại và hoài cổ truyền thống đã định hình nên vị trí đặc biệt của Đông Hồ trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là một mắt xích quan trọng, một cây cầu nối liền hai bờ kim - cổ.

4.1. Con người hoài cổ và nỗi niềm với quá khứ vàng son

Con người hoài cổ trong thơ Đông Hồ luôn hướng về quá khứ với một niềm yêu mến đặc biệt. Khi ngắm nhìn những di tích lịch sử như Cầu Thê Húc, Chùa Một Cột, ông không chỉ thấy gạch đá vô tri mà cảm nhận được cả hồn thiêng sông núi. Ký ức dân tộc vọng về qua từng con chữ, thấm đẫm nỗi buồn man mác và niềm tự hào sâu sắc. Con người ấy luyến tiếc thuở hào hùng của dân tộc và vẻ đẹp thanh bình của đất nước. Nỗi hoài cổ này còn là sự trân trọng những giá trị văn hóa, như ông viết: “Đường Tắng hồn xưa gôn nẫn nà”. Đây chính là biểu hiện của một tâm hồn nặng nợ với quốc văn, luôn tìm về cội nguồn để khẳng định bản sắc dân tộc giữa những luồng văn hóa phương Tây.

4.2. Vị trí của Đông Hồ trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

Trong bối cảnh văn học đầu thế kỷ XX, Đông Hồ chiếm một vị trí đặc biệt. Nếu so với Tản Đà hay Á Nam Trần Tuấn Khải, ông “mới” hơn rất nhiều. Nếu so với các nhà thơ mới hoàn toàn “tây” như Xuân Diệu, ông lại có chiều sâu “cũ” hơn. Ông đứng ở vị trí giao thời, thực hiện một cuộc “hòa tấu” độc đáo. Đông Hồ là “một nhà thơ tiên phong thời cận đại”, người đã góp phần hiện đại hóa thơ ca nhưng vẫn giữ gìn được phong thái trang nhã, cốt cách của một nhà Nho. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lãng mạn, đa cảm và hoài cổ đã tạo nên một phong cách riêng, một chỗ đứng vững chắc cho ông trong làng thơ dân tộc, khẳng định những đóng góp không thể phủ nhận vào thành tựu chung của văn học Việt Nam.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn thế giới nghệ thuật thơ đông hồ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đông Hồ và hành trình sáng tạo nghệ thuật “Chương 2. Các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đông, “Chương 3. Các phương thức thể hiện trong thơ Đông Hỗ.

DONG HO VA HANH TRINH SÁNG TẠO. Đông Hồ - Cuộc đời và sự nghiệp Đông Hỗ sinh ngày 8 thang 3 năm 1906 (Bính Ngọ) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hả Tiên (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), là nơi có nhiều thắng cảnh tươi đẹp, nên thơ, là nơi khởi nguồn cho mọi tình cảm thí ng, cao quý, lớn lao cia nha thơ. Ông họ Lâm, được đặt nhũ danh là Kỷ Phác. Ông cỏn có tên tự là Trác Chỉ "Đông Hồ là nhả thơ lớn, tải hoa của văn học miễn Nam nói riêng vả văn học dân tộc nói chung.

Đồi với phong trảo Thơ mới, ông cũng là một viên ngọc quý, một ngôi sao tỏa sing rực rỡ. Trong con mắt của bạn bẻ cùng giới, ông là một nghệ la tải: làm thơ, viết văn, khảo cứu, phê bình, ở bắt cứ lĩnh vue nio dng cing đạt được những thành tưu nhất định. Hơn nữa, dit trong cương vị nhà thơ, nhà văn, nhà báo hay nhà giáo, Dông Hồ đều thể hiện phong cách đa dạng, tài hoa, ông còn là một thi si da tinh, da duyên nợ với văn chương, Khi cu kháng chiến chống thực dân Pháp nỗ ra năm 1945, Đông Hỗ đời nhà lên ở Sài Gòn và lại có thêm những biệt hiệu là Đại An Am (dain ân thành thị), Nhị Liễu tiên sinh (vi khi ở xóm Lan Chị, trước công nhả có trồng, ai cây liễu). Dù với bút danh, tên hiệu nào, nhà thơ vẫn thể hiện được cốt cách lịch lãm, tài hoa, trang nhã của mình và nó đã trở thành phong cách nghệ thuật của ông Đông Hỗ mổ côi cha mẹ từ rất sớm, từ h lên năm tuổi.

Kể từ đó ông sống dưới sự chăm lo, săn sóc, yêu mễn của người bác ruột Lâm Tắn Đức, hiệu là Hữu Lân ~ một nhà nho dao đức, thông minh, nghiêm cần, là người có ảnh hưởng lớn đến nhà thơ và được ông kính yêu như cha đẻ. Ở nơi xa xôi của đất nước, Đông Hồ không có cái may mắn được tiếp cận tr thức nhân loại tỉnh nhạy, đa dạng đến từ phương Tây. VỀ việc học tập lúc nhỏ, trong mot buổi phỏng van của tập thể sinh viên Van Khoa Sai Gin, nha tho đã từng thé “Vi éng bac cung, nén cho thay di hoc từ rất sớm. Trường thây là một trường làng có ba lip và có hai ông thầy.

Lóp ba là lắp cao nhất. Thây đã lọc mãi ở lap ba cho dén 15 tuổi. Cũng không thì củ gì hết. Thính thoảng, bác cho học thêm chữ Tây với mắy người thơ ký, thông ngôn tit Sai gon đến lầm việc với các ông chủ tỉnh người Pháp.

Thầy nhờ công tự học. Chữ Hắn và chữ Tây đều nhờ do tự học mé biét.thay nhờ rất nhiều ở ông bác. Bắc thả tp không được sở đắc như các nhà nho khoa bảng Trung Bắc, nhưng rất thông nghĩa lí sử Kinh. Ông dạy cho thầy chữ Nho ngoài giờ học.

Thuở dy, trong Nam, chữ Nho học để làm thơ, đễ biết ít chữ thánh hiền, để giữ căn bản đạo đức. T31, e147) Ngoai việc học tập chữ nghĩa và sự giáo dục của người bác, ông còn cảm nhiễm đậm đã phong cảnh kỳ thú của Hà Tiên và chịu ảnh hưởng sâu sắc (i Nam Phong, Cai duyên nợ văn chương ấy mới thực sự bắt đầu khi Đông Hỗ gặp gỡ các ấn bản của Nam Phong tạp chí mả theo như ông nói thi uyên trí ngộ của thây với báo Nam Phong kẻ ra là một kỳ ngô. Nhờ bảo Nam Phong, nhà thơ được tiếp xúc với văn chương thé giới thông qua ca ba thir tiếng: chữ Việt, chữ Pháp và chữ Hán. Đọc như vậy rồi cảm nhiễm, rồi nhập tâm lúc nào không biết nữa [36, tr.

Làm thơ từ khoảng 13 tuổi, đến năm 16 tuổi thi ông bắt đầu viét bai đăng báo; kể từ đó câu chuyện văn chương của. Đông Hồ đã bất đầu và tiếp diễn cho đến giây phút cuối đời. Vì cái duyên đâm đã với tạp lam Phong nên ngay trong thời kỳ đầu tiên của nghẻ cằm bút, Đông jaa làm thơ viết văn gửi đăng tap chi nảy tir khoảng 1923 cho đến khi tạp chí này đóng cửa vào năm 1934 và ông nổi danh trên ling văn dân tộc tử đấy. Những bài thơ, bải văn của ông ở đó sau này được in thành các tuyển tập riêng như Thơ Đồng Hỏ (sáng tác trong khoảng 1922- 1932), Lởi hoa, Linh phượng C6 gải xuân (thơ sắng tắc trong khoảng 1932-1935).

Song song với việc viết bài cho báo Nam Phong, Đông Hỗ còn chung súc với bạn bè mở tư thục Trí Đức Học Xá, nơi để nhà thơ truyền bá tắm chân tình nỗng nhiệt đối với tiếng mẹ đẻ vả quốc văn. Ở Trí Đức Học Xá, ông chủ trương dùng quốc văn để day học, cỗ vũ học trỏ và bạn hữu tin tưởng vào tương lai Việt ngữ. Tuy nhiên, trường cũng gặp nhiều khó khăn và nghỉ ky, mở cửa trong khoảng 8 năm rồi phải đồng cửa, rồi lại khai giảng rồi lại đồng cửa. Lẳn đóng cửa thứ 3 cũng là lần cuỗi cùng xảy ra vào năm 1934, cũng với lúc báo Nam Phong đình bản.

'Năm 1935, Đông Hỗ lên Sải Gồn cùng nhóm bạn thân mở tuẫn báo “Sống với thm nguyện truyền bá quốc văn, quốc ngữ. Tờ báo là nơi sưu tắm, đăng tải các bằi viết hay của những mẫm non tương lai của văn học miễn "Nam. Ra được 30 số thì báo Sóng phải tự đình bản. Năm 1936, ông trở về Hà Tiên ẩn cư; chính ở đó, nhả thơ đã dồn tâm huyết vảo nghiên cứu văn học miễn Nam với mong muốn làm tiếp công việc “va cl ée fo ning tho” dang đang đỡ.

Các tác phẩm phê bình, nghiên cứu, biên khảo như Aihững (ổi thường lầm trong sự học quốc văn, Hà Tiên thập cảnh, Văn học miền Nam và Hà Tiên Mạc thị sử đã được ra đời trong khoảng thời gian ấy. Đền năm 1940, sông lại ra đi buôn, mở hiệu tạp hóa lấy tên là Yiém Yiễm Tương Điểm kẻm theo hiệu sách là Viễm Yiễm Thư Trang; dẫu bôn tẩu như thế nao để lo toan cho cuộc sống thì nhà thơ vẫn không thôi dứt nợ đối với văn chương nghệ thuật. Đến năm 1945 thì ông đẹp bỏ hết, chạy loạn rồi tham gia cách mạng. Nhà thơ từng thổ lộ là đã (ham gia cách mang với một tâm hồn nghệ sĩ hơn là một chiến sĩ của khẳng chiến [39, tr.155-156J- Đó là những thắng ngày nhà thơ cùng sống, cùng chung hưởng bầu không khí anh hùng, dũng cảm, kiên.

cường của dân tộc, “Tập thơ Bội lan hành đã ra đời trong hoàn cảnh ấy. Năm 1950, ông mở lại Yiễm Yiém Thur Trang ở đường Nguyễn Thái Học (Sải Gòn) phát hành sách báo đồng thời mở nhả xuất ban Bon Phuong, cho đến 1953 thì mở thêm. tuần báo Nhân loại đập san để dùng làm cơ quan cho cả nhà sách lẫn nha xuất bản và tổ chức phát hảnh. Thể rồi dẫn dẫn ông nghỉ hết việc làm ăn, trở về công cuộc sáng tác và dạy học như là sự trả nợ cho mỗi đuyên ân tỉnh giữa nhà thơ với văn chương.

Giai đoạn nảy, ông đã cho xuất bản tập thơ Trinh Trắng, Truyện Song Tình, Hà Tiên Thập Cảnh, hoàn thành các tập biên khảo. Văn học Hà Tiên, Úc Liên Thí Thoại, Đăng Đàn và một số cắc tập thơ văn nho nhỏ khác. Tử năm 1957, ông tham gia Trung tâm Văn bút Việt Nam của hội Văn bút Quốc tế, giữ chức vụ cổ vấn cho đến ngày mệnh chung. Những năm thắng cuối đời.

Đông Hồ dành trọn thời gian cho việc giảng day Van hoc mién Nam cho Đại học Văn khoa Sải Gòn. Những năm thắng ở Văn khoa là những năm ông hạnh phúc hơn cả vỉ đã tìm thấy trong việc đạy học niềm vui mà Mạnh Tử bảo là cỏn quý hơn cái vu làm vua trong thiên hạ. Trong hồi e của các sinh viên Văn khoa thời đó, giờ học của ông có không khí đặc biệt bởi phong thái nghiêm cẳn của một nhà Nho bên cạnh phong thai của một thỉ sĩ tải hoa vả sự đồng điệu sâu sắc giữa thấy và trỏ. Ngày 25 thắng 3 năm 1969, trên một giảng đường ở lầu hai lộng gió của Đại học Văn khoa, nhà thơ - nhà giáo Đông Hồ đã bắt ngờ ngã xuống trong lúc.

đang bình bài thơ Trung Nit Virong cia nữ sĩ Ngân Giang: Bài thơ nói về nỗi cô đơn lạnh lẽo của người nữ anh hùng chạnh nhớ chồng sau chiến thắng — một tứ thơ rất độc đáo, nữ tính mà ông đã tỉnh tế chỉ ra. Trước sự ra đi đột ngột của người nghệ sĩ đa t ấy, nhà thơ Chiêu Dương đã viết bài Cảm thương trong đô có hai câu “4i đem tang tóc vào thơ/ Ngâm câu “Điện ngoc.", Đông Hỗ ra đi”. Nhà thơ ra đi vào cdi vĩnh hằng, dé Iai niém thương tiếc vô hạn rong lòng người thân, bạn bẻ và môn sinh; suốt đời ho, họ sẽ không bao giờ quên được cái phong đô, cái chân tỉnh nho gia của ông. Những gi nha tho dé lai, dng hiển cho đời đi sẽ tai trường cửu cùng với thời gian: Nó sẽ góp phẫn làm cho người đọc bao thể hệ sẽ thêmy thêm cquý tiếng mẹ đẻ thân thương của chúngta hơn.

Hành trình sáng tạo thơ ca 1. Từ Thơ Đông Hồ, Bội lan hành Thơ Đông Hỏ là tập thơ đầu tay của Đông Hồ, được sing tác trong khoảng những năm 1922 ~ 1932, gồm 198 bài với nhiều thể loại khác nhau. Nhìn chúng, đây là một tập thơ tuy cũ về hình thức nhưng đã có những đổi mới về tư duy. Tỉnh thần thì là tỉnh thần đạo lý của nhà nho đượm thêm tỉnh tự dân tộc, tỉnh cảm thiên nhiên, còn để tải thường liên quan đến cảnh non nước, thời tiế xuân thu, người đẹp (Mỹ nhân thap vinh, Ngọc nhân thập vinh, Giai nhân nhàn sẳu thập vịnh), đời sống cá nhân và các mỗi giao thiếp với bằng hữu hoặc môn sinh.

Nbi bài xoay quanh Trí Đức học xá, chan chứa tình yêu quốc văn mà chính thí nhân đã từng coi như là một ngư ink “Đệ trước sau vẫn nguyên làm một người trí kỷ với Quốc văn, lòng này đã cũng với quốc văn ước nguyễn sông núi" (Nam Phong số 135), hay: "Nhà học xá Trí Đức đối với tôi đã có một mỗi cảm tình thân thiết như Quốc ngữ đối với tôi có một duyên nợ thâm trằm” (Nam Phong số 162). Với tập thơ, Đông Hồ đã vào làng thơ với phong độ một nhà nho cũ, với bóng dắng một ông cụ già.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ