Chương 1. Đông Hồ và hành trình sáng tạo nghệ thuật “Chương 2. Các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đông, “Chương 3. Các phương thức thể hiện trong thơ Đông Hỗ.
DONG HO VA HANH TRINH SÁNG TẠO. Đông Hồ - Cuộc đời và sự nghiệp Đông Hỗ sinh ngày 8 thang 3 năm 1906 (Bính Ngọ) tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hả Tiên (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), là nơi có nhiều thắng cảnh tươi đẹp, nên thơ, là nơi khởi nguồn cho mọi tình cảm thí ng, cao quý, lớn lao cia nha thơ. Ông họ Lâm, được đặt nhũ danh là Kỷ Phác. Ông cỏn có tên tự là Trác Chỉ "Đông Hồ là nhả thơ lớn, tải hoa của văn học miễn Nam nói riêng vả văn học dân tộc nói chung.
Đồi với phong trảo Thơ mới, ông cũng là một viên ngọc quý, một ngôi sao tỏa sing rực rỡ. Trong con mắt của bạn bẻ cùng giới, ông là một nghệ la tải: làm thơ, viết văn, khảo cứu, phê bình, ở bắt cứ lĩnh vue nio dng cing đạt được những thành tưu nhất định. Hơn nữa, dit trong cương vị nhà thơ, nhà văn, nhà báo hay nhà giáo, Dông Hồ đều thể hiện phong cách đa dạng, tài hoa, ông còn là một thi si da tinh, da duyên nợ với văn chương, Khi cu kháng chiến chống thực dân Pháp nỗ ra năm 1945, Đông Hỗ đời nhà lên ở Sài Gòn và lại có thêm những biệt hiệu là Đại An Am (dain ân thành thị), Nhị Liễu tiên sinh (vi khi ở xóm Lan Chị, trước công nhả có trồng, ai cây liễu). Dù với bút danh, tên hiệu nào, nhà thơ vẫn thể hiện được cốt cách lịch lãm, tài hoa, trang nhã của mình và nó đã trở thành phong cách nghệ thuật của ông Đông Hỗ mổ côi cha mẹ từ rất sớm, từ h lên năm tuổi.
Kể từ đó ông sống dưới sự chăm lo, săn sóc, yêu mễn của người bác ruột Lâm Tắn Đức, hiệu là Hữu Lân ~ một nhà nho dao đức, thông minh, nghiêm cần, là người có ảnh hưởng lớn đến nhà thơ và được ông kính yêu như cha đẻ. Ở nơi xa xôi của đất nước, Đông Hồ không có cái may mắn được tiếp cận tr thức nhân loại tỉnh nhạy, đa dạng đến từ phương Tây. VỀ việc học tập lúc nhỏ, trong mot buổi phỏng van của tập thể sinh viên Van Khoa Sai Gin, nha tho đã từng thé “Vi éng bac cung, nén cho thay di hoc từ rất sớm. Trường thây là một trường làng có ba lip và có hai ông thầy.
Lóp ba là lắp cao nhất. Thây đã lọc mãi ở lap ba cho dén 15 tuổi. Cũng không thì củ gì hết. Thính thoảng, bác cho học thêm chữ Tây với mắy người thơ ký, thông ngôn tit Sai gon đến lầm việc với các ông chủ tỉnh người Pháp.
Thầy nhờ công tự học. Chữ Hắn và chữ Tây đều nhờ do tự học mé biét.thay nhờ rất nhiều ở ông bác. Bắc thả tp không được sở đắc như các nhà nho khoa bảng Trung Bắc, nhưng rất thông nghĩa lí sử Kinh. Ông dạy cho thầy chữ Nho ngoài giờ học.
Thuở dy, trong Nam, chữ Nho học để làm thơ, đễ biết ít chữ thánh hiền, để giữ căn bản đạo đức. T31, e147) Ngoai việc học tập chữ nghĩa và sự giáo dục của người bác, ông còn cảm nhiễm đậm đã phong cảnh kỳ thú của Hà Tiên và chịu ảnh hưởng sâu sắc (i Nam Phong, Cai duyên nợ văn chương ấy mới thực sự bắt đầu khi Đông Hỗ gặp gỡ các ấn bản của Nam Phong tạp chí mả theo như ông nói thi uyên trí ngộ của thây với báo Nam Phong kẻ ra là một kỳ ngô. Nhờ bảo Nam Phong, nhà thơ được tiếp xúc với văn chương thé giới thông qua ca ba thir tiếng: chữ Việt, chữ Pháp và chữ Hán. Đọc như vậy rồi cảm nhiễm, rồi nhập tâm lúc nào không biết nữa [36, tr.
Làm thơ từ khoảng 13 tuổi, đến năm 16 tuổi thi ông bắt đầu viét bai đăng báo; kể từ đó câu chuyện văn chương của. Đông Hồ đã bất đầu và tiếp diễn cho đến giây phút cuối đời. Vì cái duyên đâm đã với tạp lam Phong nên ngay trong thời kỳ đầu tiên của nghẻ cằm bút, Đông jaa làm thơ viết văn gửi đăng tap chi nảy tir khoảng 1923 cho đến khi tạp chí này đóng cửa vào năm 1934 và ông nổi danh trên ling văn dân tộc tử đấy. Những bài thơ, bải văn của ông ở đó sau này được in thành các tuyển tập riêng như Thơ Đồng Hỏ (sáng tác trong khoảng 1922- 1932), Lởi hoa, Linh phượng C6 gải xuân (thơ sắng tắc trong khoảng 1932-1935).
Song song với việc viết bài cho báo Nam Phong, Đông Hỗ còn chung súc với bạn bè mở tư thục Trí Đức Học Xá, nơi để nhà thơ truyền bá tắm chân tình nỗng nhiệt đối với tiếng mẹ đẻ vả quốc văn. Ở Trí Đức Học Xá, ông chủ trương dùng quốc văn để day học, cỗ vũ học trỏ và bạn hữu tin tưởng vào tương lai Việt ngữ. Tuy nhiên, trường cũng gặp nhiều khó khăn và nghỉ ky, mở cửa trong khoảng 8 năm rồi phải đồng cửa, rồi lại khai giảng rồi lại đồng cửa. Lẳn đóng cửa thứ 3 cũng là lần cuỗi cùng xảy ra vào năm 1934, cũng với lúc báo Nam Phong đình bản.
'Năm 1935, Đông Hỗ lên Sải Gồn cùng nhóm bạn thân mở tuẫn báo “Sống với thm nguyện truyền bá quốc văn, quốc ngữ. Tờ báo là nơi sưu tắm, đăng tải các bằi viết hay của những mẫm non tương lai của văn học miễn "Nam. Ra được 30 số thì báo Sóng phải tự đình bản. Năm 1936, ông trở về Hà Tiên ẩn cư; chính ở đó, nhả thơ đã dồn tâm huyết vảo nghiên cứu văn học miễn Nam với mong muốn làm tiếp công việc “va cl ée fo ning tho” dang đang đỡ.
Các tác phẩm phê bình, nghiên cứu, biên khảo như Aihững (ổi thường lầm trong sự học quốc văn, Hà Tiên thập cảnh, Văn học miền Nam và Hà Tiên Mạc thị sử đã được ra đời trong khoảng thời gian ấy. Đền năm 1940, sông lại ra đi buôn, mở hiệu tạp hóa lấy tên là Yiém Yiễm Tương Điểm kẻm theo hiệu sách là Viễm Yiễm Thư Trang; dẫu bôn tẩu như thế nao để lo toan cho cuộc sống thì nhà thơ vẫn không thôi dứt nợ đối với văn chương nghệ thuật. Đến năm 1945 thì ông đẹp bỏ hết, chạy loạn rồi tham gia cách mạng. Nhà thơ từng thổ lộ là đã (ham gia cách mang với một tâm hồn nghệ sĩ hơn là một chiến sĩ của khẳng chiến [39, tr.155-156J- Đó là những thắng ngày nhà thơ cùng sống, cùng chung hưởng bầu không khí anh hùng, dũng cảm, kiên.
cường của dân tộc, “Tập thơ Bội lan hành đã ra đời trong hoàn cảnh ấy. Năm 1950, ông mở lại Yiễm Yiém Thur Trang ở đường Nguyễn Thái Học (Sải Gòn) phát hành sách báo đồng thời mở nhả xuất ban Bon Phuong, cho đến 1953 thì mở thêm. tuần báo Nhân loại đập san để dùng làm cơ quan cho cả nhà sách lẫn nha xuất bản và tổ chức phát hảnh. Thể rồi dẫn dẫn ông nghỉ hết việc làm ăn, trở về công cuộc sáng tác và dạy học như là sự trả nợ cho mỗi đuyên ân tỉnh giữa nhà thơ với văn chương.
Giai đoạn nảy, ông đã cho xuất bản tập thơ Trinh Trắng, Truyện Song Tình, Hà Tiên Thập Cảnh, hoàn thành các tập biên khảo. Văn học Hà Tiên, Úc Liên Thí Thoại, Đăng Đàn và một số cắc tập thơ văn nho nhỏ khác. Tử năm 1957, ông tham gia Trung tâm Văn bút Việt Nam của hội Văn bút Quốc tế, giữ chức vụ cổ vấn cho đến ngày mệnh chung. Những năm thắng cuối đời.
Đông Hồ dành trọn thời gian cho việc giảng day Van hoc mién Nam cho Đại học Văn khoa Sải Gòn. Những năm thắng ở Văn khoa là những năm ông hạnh phúc hơn cả vỉ đã tìm thấy trong việc đạy học niềm vui mà Mạnh Tử bảo là cỏn quý hơn cái vu làm vua trong thiên hạ. Trong hồi e của các sinh viên Văn khoa thời đó, giờ học của ông có không khí đặc biệt bởi phong thái nghiêm cẳn của một nhà Nho bên cạnh phong thai của một thỉ sĩ tải hoa vả sự đồng điệu sâu sắc giữa thấy và trỏ. Ngày 25 thắng 3 năm 1969, trên một giảng đường ở lầu hai lộng gió của Đại học Văn khoa, nhà thơ - nhà giáo Đông Hồ đã bắt ngờ ngã xuống trong lúc.
đang bình bài thơ Trung Nit Virong cia nữ sĩ Ngân Giang: Bài thơ nói về nỗi cô đơn lạnh lẽo của người nữ anh hùng chạnh nhớ chồng sau chiến thắng — một tứ thơ rất độc đáo, nữ tính mà ông đã tỉnh tế chỉ ra. Trước sự ra đi đột ngột của người nghệ sĩ đa t ấy, nhà thơ Chiêu Dương đã viết bài Cảm thương trong đô có hai câu “4i đem tang tóc vào thơ/ Ngâm câu “Điện ngoc.", Đông Hỗ ra đi”. Nhà thơ ra đi vào cdi vĩnh hằng, dé Iai niém thương tiếc vô hạn rong lòng người thân, bạn bẻ và môn sinh; suốt đời ho, họ sẽ không bao giờ quên được cái phong đô, cái chân tỉnh nho gia của ông. Những gi nha tho dé lai, dng hiển cho đời đi sẽ tai trường cửu cùng với thời gian: Nó sẽ góp phẫn làm cho người đọc bao thể hệ sẽ thêmy thêm cquý tiếng mẹ đẻ thân thương của chúngta hơn.
Hành trình sáng tạo thơ ca 1. Từ Thơ Đông Hồ, Bội lan hành Thơ Đông Hỏ là tập thơ đầu tay của Đông Hồ, được sing tác trong khoảng những năm 1922 ~ 1932, gồm 198 bài với nhiều thể loại khác nhau. Nhìn chúng, đây là một tập thơ tuy cũ về hình thức nhưng đã có những đổi mới về tư duy. Tỉnh thần thì là tỉnh thần đạo lý của nhà nho đượm thêm tỉnh tự dân tộc, tỉnh cảm thiên nhiên, còn để tải thường liên quan đến cảnh non nước, thời tiế xuân thu, người đẹp (Mỹ nhân thap vinh, Ngọc nhân thập vinh, Giai nhân nhàn sẳu thập vịnh), đời sống cá nhân và các mỗi giao thiếp với bằng hữu hoặc môn sinh.
Nbi bài xoay quanh Trí Đức học xá, chan chứa tình yêu quốc văn mà chính thí nhân đã từng coi như là một ngư ink “Đệ trước sau vẫn nguyên làm một người trí kỷ với Quốc văn, lòng này đã cũng với quốc văn ước nguyễn sông núi" (Nam Phong số 135), hay: "Nhà học xá Trí Đức đối với tôi đã có một mỗi cảm tình thân thiết như Quốc ngữ đối với tôi có một duyên nợ thâm trằm” (Nam Phong số 162). Với tập thơ, Đông Hồ đã vào làng thơ với phong độ một nhà nho cũ, với bóng dắng một ông cụ già.