CHƯƠNG 1 THO DONG DUC BON TRONG DONG CHAY CUA THO VIET NAM SAU 1975 1. NHUNG DIEM NOI BAT CUA THO VIET NAM SAU 1975, 1. Tiếp tục cảm hứng sử thi, nhưng thiên về bi tráng và gắn với những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân ‘Sau 1975, tho van tiếp tục mạch cảm hứng sử thi khi cuộc chiến. tranh hào hùng của dân tộc song chất sử thỉ đã mang tầm khái quát lịch sử hơn khi nó được thể hiện bằng tinh chân xác, cụ thể, thắm thía qua chiêm nghiệm cá nhân của mỗi nhà thơ.
Dấu hiệu thay đổi rõ nét nhất là thơ không còn hoàn toàn mang âm điệu hao sing bay bỗng ngợi ca lãng mạn như trước 1975 mà đã chứa đựng những trằm lắng, suy tư về những hỉ sinh, mắt mắt của quê hương, đắt nước trong chiến tranh và nỗi đau của con người vừa từ giã cuộc chiến đang âm thằm gánh chịu. Trường ca là thể loại mà các nhà thơ lựa chọn để diễn tả những cung bậc cảm xúc mới mẻ này. Trong hầu hết các trường ca, hình tượng trung tâm của thơ vẫn là nhân dân. Dé là những con người bình di nhưng anh hùng, dám đối điện với những hỉ sinh mắt mát đau thương để hướng về lí tưởng.
Trong Đường tới thành phó của Hữu Thinh, hình ảnh nhân dân hiện lên với những vẻ đẹp hảo hùng va bi trang song nhân cân còn là những con người giữa đời thường, ngày đêm bám trụ trên những vùng đất ác liệt chiến tranh với vẻ đẹp huyền thoại, cao cả, phi thường nhưng. cũng vô cùng bình di "Nhân dân tôi khởi lên tự phù sa 'Và cứ thế, nhân dân thường ít nói Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời 'Và cứ thể, nhân dân cao vòi vọi Hơn cả những ngôi sao cô độc giữa trời (Thanh Thảo - Những người đi ới biển) Có thể nhận nhận thấy trong thơ sau 1975, những cảm nhận về sự hỉ sinh đã khác nhiều so với trước. Trong những trang thơ, sự hi sinh bấy giờ không còn là sự hồi sinh, thăng hoa của cảm xúc tự hào mà thay vào đó là những lạnh lẻo, cô đơn, là nỗi buồn chiến tranh với hình ảnh ngôi mộ, cái chết của chính những người trực tiếp tham gia vào trận chiến: ‘Sau tran đánh tôi về thành phố. Ban ở lại rừng, sương rơi trên mộ (Lé Van Vong) Nỗi xót xa cứ day dứt trong sự hỗi tưởng: Ở rừng xanh mộ bạn anh đã mấy lần thay cỏ “Thương nhớ cắm hoa mờ bia trắng.
(Trần Hoàng Cương) 'Và, có khi là sự lăng quên đến lạnh lùng, tàn nhẫn. Người vô danh, hoa cỏ cũng vô danh (Ngọc Bái) Rõ rằng, sau 1975, sử thi vẫn tiếp tục là một nguồn cảm hứng cho vin học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng. Nhưng thực tế, cảm hứng này tục khoảng mười im năm đầu. Để sau này, khi văn học bước vào thời kì Đôi Mới ‘am himg nay đã nhạt dần và không còn là nguồn chủ yếu để các nhà thơ tiếp tục thể hiện cảm xúc của mình trên từng trang viết.
Nói đúng hơn, cảm hứng sử thỉ dẫn được thay bằng cái nhin day mẫn cảm trước những, biến đổi của thực tế cuộc sống. Sự khẳng định cái tôi thể sự và đời tư Sau khi bước ra khỏi cuộc chiến tranh, trở về với cuộc sống đời thường, con người Việt Nam phải đối diện với bao thử thách, phức tạp của cuộc sống. Ho tiếp tục bước vào một cuộc chiến thầm lặng không tiếng súng nhưng khắc. nghiệt và đầy cám dỗ mà bản tính trong sạch ngay thẳng của những con người từng đối diện với sự sống và cái chết trên chiến trường đạn bom năm xưa không để gì vượt qua.
Sự nghèo khổ, đói rách của quê hương, của đồng đội và của những người thân yêu; sự muộn mảng, dang dở hạnh phúc của bao lứa đôi trở về từ chiến tranh; nỗi cô đơn, đau đớn của những bà mẹ, người vợ trở. thành nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi trong tâm hỗn người cầm bút. Chính vì thể, có. iy trong văn học sau 1975, cảm hứng sử thi nhạt dần và đang dẫn được thay bằng cảm hứng thế sự đời tư.
Sau 1975, thơ ca Việt Nam vận động gắn liền với những chuyển biến tích cực của sự đổi mới thơ theo hướng hiện đại hóa. Dẫu trường ca vẫn mang, âm hưởng hào hùng, nhưng b¿ kịch của con người đã bắt đầu được quan tâm. Trong những trường ca này, mặc dù cái ð¡ chỉ là yếu tố để làm nổi bật cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người. Dường như số.
phận con người đong đầy trong cảm xúc của các nhà thơ: Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch. Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền (Hữu Thỉnh - Đường tới thành phổ) Tiếp sau đó, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, “thơ đời thưởng” xuất hiện. Các nhà thơ chú ý phản ánh nhiều những bi kịch của con người. Đó là những dư âm của nỗi đau chiến tranh.
Cái cảm giác bể tắc và chán nản là cảm. giác khá nỗi bật trong tâm trạng nhiều người: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi ‘Cau trả lời thật chẳng dễ dang chi (Nguyễn Trọng Tạo - Tán mạn thời tôi sống) Thậm chí, các hình tượng nghệ thuật từng một thời được huyền thoại hóa bởi giọng điệu sử thí nay không còn là hiện tượng nỗi bật của thơ ca giai đoạn này nữa mã thay vào đó là “những mặt trái của đời sống, những thay đỗ các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến những bắt công xã hội” [56, tr. Tắt cả đều được các nhà thơ “bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc. chiêm nghiệm” thể hiện một cách khá riết róng trong tác phẩm của mình.
Đặc biệt sau 1986, khi \g cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc. đây tinh thần dân chủ và sự phát tri mạnh mẽ ý thức cá nhân trong van học” [29, tr.123] thì trong văn học, nhất là thơ ca giai đoạn này đã trỗi dậy những. cảm xúc mới mẻ, đi sâu vào khám phá bản chất bên trong của cơn người “để thể hiện những khát vọng đào sâu vào bản ngã” [28, tr 123]. Càng về sau, cảm hứng thé sự đời tư càng được bộc lộ rõ nét và trở thành cảm hứng sáng tác chủ yếu của thơ ca vào những năm 90 của thế ki XX.
Đây là lúc "trách nhiệm công dân, đạo đức nghệ sĩ đã được đặt ra tuy âm thằm nhưng khá quyết liệt” 36, tr98]. Các nhà thơ thể hiện nhân cách nghệ sĩ của mình trên hai bình điện: vừa phân ánh hiện thực với vai trò công d , vừa phải đi sâu vào khám. phá đời sống cá nhân với muôn. Cảm xúc xót xa “Bấy giờ anh.
vào tuôi bồn mươi/ Vẫn hốc hác khuôn mặt thời lính trận. Đâu chỉ lỡ một chuyến đò đánh chìm đôi lứa” (Hoàng Trấn Cương) khiển con người nhận thức rõ hơn giá trị của sự sống. Họ hiểu mình cân tiếp tục cuộc hành trình. cam go hơn trước để hướng về sự tồn tại đích thực, niễm vui và hạnh phúc.
Bởi, “Những sợi nắng xuyên qua nhà mình” giờ đây không còn là những sợi nắng bình thường mà đã trở thành “những mũi tên/ Thành những viên đạn/ Bin tiếp vào anh không gì che chắn” (Phùng Khắc Bắc). Nhà thơ trở thành những “Người đi tìm mặt" (Hoàng Hưng), đã trăn trở, day dứt với câu hỏi “Ta là ai?”. C du hoi một thời dường như không thể là ám ảnh, khi trung thực được xem là sự khởi đầu và đích đến của hành trình sáng tạo nghệ thuật thì thơ phải trung thực với hiện thực xã hội và người làm thơ phải biết tôn trọng sự thật. Với nhà thơ lúc này, “Cái đẹp là sự thậU Hơn cả tắm trong lửa trong nước là tắm trong những ý nghĩ trung thực” (Thanh Théo).
Thơ là lời tự thú Anh là tháp Bay-on bốn mặt Giấu đi ba, còn lại day là anh. a nặt đó mà nghìn trò cười khóc. Lim dau ba mặt kia trong cõi ẫn hình (Chế Lan Viên - Tháp Bay-on bắn mặt) Chính vì vậy, các nhà thơ khám phá được chính mình. Họ cảm thấy chắn ghét những bài thơ viết theo công thức, giả tạo và tự xác định mình phải có trách nhiệm đối với thơ ca dân tộc trong thời kì mới: Thơ lặng lẽ, gầy gò “Thơ như thanh thép nguội, thơ làm cột thu lôi dưới bao giông này (Nguyễn Khoa Điềm) 'Và, khi “người trung thực gánh sự thật bằng đôi vai trần trụi của chính.
mình” (Ngọc Bái), họ cần có lòng đũng cảm, khát vọng Tôi lột hết ngữ ngôn bóng bây. những áo xống triệu thần trong những tụng ca những bài thơ trẻ trung cởi áo dưới mặt trời làm nghĩa vụ công dân (Thu Bon) để “Dẫu sinh nở muộn màng/ Sự thật bật ra, ứa máu/ Đẹp như nụ cười mẹ sau những cơn đau” (Lẻ Nhược Thủy). Khoảng thời gian từ 1980 đến 1990, các nhà thơ luôn đau đáu một khát vọng dân chủ. Khi đã có một khoảng lùi thời gian cẩn thiết, các nhà thơ có.
điều kiện đi sâu khám phá hiện thực đời sống để rồi họ ngỡ ngàng, đau đớn và có phần hụt hằng trước sự thật. Nguyễn Duy từng đau xót và thẳng thắn chỉ ra những nghịch cảnh của đất nước trong thời kỳ khủng hoảng trằm trọng sau. chiến tranh: -Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày. _Xứ sở tir bi sao that lắm thứ ma Ma quái - ma cô - ma tà - ma mãnh .Quỷ nhập trang xiêu vẹo những hình hài Xứ sở thông minh Sao thật lắm trẻ con thất học Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương.
(Nhìn từ xa. Tổ quốc) 'Với lương tâm, trách nhiệm người cằm bút, nhiều nhà văn, nhà thơ đã "Tôi đã đi quá nữa cuộc đời “Qua những thập kỉ hát ca, những thé kỉ anh hùng Say mê quá chợt bây giờ nhìn lại 'Chứa bao điều bão tố ở bên trong. (Vð Văn Trực) Ho day dứt, trăn trở về những non nớt, hời hợt của một thời Ta da đến như một niềm kiêu hãnh mượn trời xanh làm tắm thảm êm để quên hết những gập ghềnh trên mặt đắt (Thu Bon) Voi những thay đổi sâu sắc trong nhận thức, e nhà thơ đã dũng cảm đối diện với những nỗi đau thương, mắt mát ở: Mấy đời xương trắng hóa vôi 'Tro tàn âm ¡ mấy thời chiến tranh (Nguyễn Duy) Trong thơ ca sau 1975 đặc biệt sau 1986, tỉnh thần dân chủ được thể hiện rõ nét và sâu sắc.