CHƯƠNG I TU DUY BIEU TƯỢNG TRONG VĂN XUÔI VÕ THỊ HẢO 1. GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM. Biểu tượng Biểu tượng trong tiếng Việt có xuất xứ từ thuật ngữ “Représentation” hoặc “symbole” trong ti 1g Pháp. Từ điển tự từ phong cách thí pháp học của Nguyễn Thái Hòa chấp nhận sự gần gũi, tương đồng giữa các khái niệm biểu.
tượng, biểu trưng khi cho rằng: “Trong tiếng Việt những thuật ngữ biểu tượng, biểu trưng, tượng trưng là những từ gần nghĩa dùng để dịch từ “symbole” ¢6 § nghĩa cơ bản là một dầu hiệu (tín hiệu, kí hiệu) mang tính quy ước hàm chỉ một đặc trưng, một phẩm chất, một sáng tạo hay hẹp hơn là có. khả năng gợi ra một đối tượng khác, một sự vật khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận” [24,tr. Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình S , Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) không đồng tình với quan niệm trên khi khu biệt khái niệm biểu tượng và tượng trưng. Theo các tác giá, tượng trưng được hiểu là 'biểu tượng trong phạm vi mĩ học, lí luận văn học, ngôn ngữ học.
"hẹp của khái niệm biểu tượng. Triết học và tâm lí học Macxit cho rằng: “biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt” [15,tr. Biểu tượng được xem là một giai đoạn của quá trình nhận thức mà kết quả là một ấn tượng còn đọng lại. Biểu tượng theo đó.
gan loc tinh cụ thể và trực tiếptác động của sự vật để ngưng tụ kết tỉnh tính cốt lõi và khái quát hóa cảm giác thành ấn tượng trừu tượng hơn.Becker “ví biểu tượng với một khối tỉnh thể phục nguyên lại theo. cách khác nhau, nguồn sáng tùy thuộc theo từng mặt tỉnh thể tiếp nhận ánh 13 sáng. Và ta còn có thể nói nó là một thể sống, một mẫu của con người ta đang. chuyển động và biến đổi.
Đến mức cứ nhìn ngắm nó, bắt nó như là đối tượng suy ngẫm, thì cũng tức là ta đang nhìn ngắm chính cái quỹ đạo ta sắp lần theo, ta nắm bắt cái hướng vận động đang lôi kéo con người ta đang đi tới” (9r. Với cách hiểu này thì biểu tượng phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận. Muốn nắm bắt được biểu tượng, công việc của chủ thể tiếp nhận là phải tìm. được "quỹ đạo”.
Biểu tượng cũng là đối tượng được các nhà phân tâm học quan tâm. Theo Freud: “Biéu tượng diễn đạt một cách gián tiếp bóng gió và ít nhiều khó. nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên kết thống.
nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng. Khi ta nhận ra chẳng hạn trong một hành vị, ít nhất là có hai phần ý nghĩa mà phân này thế chỗ cho phần kia bằng cách vừa che lấp vừa bộc lộ phần kia ra, ta có thể gọi mối quan hệ giữa chúng là có tính biểu tượng” |9,t-24]. Như vậy, theo quan niệm của Ereud thì biểu tượng được xét trên mối quan hệ hai mặt: cụ thể và trừu tượng, rõ rệt và tiềm ấn. quan điểm Mác xít, biểu tượng là một giai đoạn của nhận thức tức là xét biểu.
tượng nghiêng về mặt lí tri, thì ngược lại Freud cho rằng biểu tượng là tiếng. nói của những ham muốn bị dồn nén, những xung đột chìm sâu trong vô thức con người. Jung chú ý đến thuộc tính “khả biến” của biểu tượng khi đưa ra định nghĩa: *Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó" [9,tr. Ông khẳng định thêm: "Biểu tượng không, bó chặt gì hết, nó đưa ta ra bên ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm ở tận phía ngoài kia, không thể nắm bắt, được dự cảm một cách mơ hồ và không có.
14 từ nào trong ngôn ngữ chúng ta có thể diễn đạt thỏa đáng” {9,tr. Như vậy, theo C. Jung biểu tượng là một khái niệm rất khó nắm bắt, nó nằm trong sự giao thoa giữa cái rõ ràng và mơ hồ, cái hiện hữu và tiềm ẩn, cái miêu tả được. và cái khó diễn đạt thành lời.
“Đặc tính của biểu tượng là mãi mãi gợi cảm. đến bất tận: mỗi người thấy ở đấy cái mà năng lực thị giác của mình có thể nhận ra, thiếu sự thâm thúy thì sẽ chẳng nhận được gi cả” [9r. Con đường đi đến biểu tượng chịu sự chỉ phối mạnh mẽ của vô thức tâm linh. nhiên, nó không phủ nhận lí trí và tính logic bởi xét đến cùng thì biểu tượng.
vẫn là sản phẩm của lịch sử, thời đại, văn hóa của dân tộc. Trên đây là một số những kiến giải về biểu tượng được tập hợp từ cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa 1 iới, những kiến giải này phần nào đã giúp. người đọc nắm được bản chất của biểu tượng. Tuy nÌ các tác giả cũng.
không đưa ra một định nghĩa xác thực và cụ thể nhất về biểu tượng. Chính nhà soạn sách cũng phải thừa nhận: "Vì không cách gì định nghĩa được biểu tượng. Tự bản chất của nó, nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm” [9,r.14] Như vậy, biểu tượng có rất nhiều cách hiểu, nhiều kiến giải khác nhau, là mối quan tâm của rất nhiều ngành, lĩnh vực. Biểu tượng là một dạng kí hiệu đặc biệt, siêu ngôn ngữ ẩn chứa những tằng ý nghĩa phong phú, muôn màu về: cuộc sống xung quanh.
Con người không thể tách mình ra khỏi thể giới ấy. Vì thế biểu tượng luôn tồn tai trong tiềm thức của mỗi cá nhân, mỗi công đồng. Biểu tượng với hình trợng Biểu tượng không phải là một khái niệm dễ nắm bắt như đã nói ở trên, hơn nữa lại dễ nhda lẫn với các khái niệm liễn kể. Để nắm vững hơn khái niệm biểu tượng, ở mục này, chúng tôi sẽ đi vào khu biệt khái niệm biểu tượng với khái niệm liền kẻ dễ lẫn lộn nhất đó là hình tượng.
15 Tit dién thuật ngữ văn học định nghĩa: “Hình tượng là phương tiện cơ bản để khái quát hiện thực. Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương, thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật. Bắt cứ hiện tượng nào của đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật, đều là hình tượng nghệ thuật” [15,t. Các tác giả cuốn sách cũng đã khu biệt khái niệm biểu tượng và hình tượng ở nội hàm.
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. ''Trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu. tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay.
một triế lí sâu xa về con người và cuộc đời” [15,tr24] Can khẳng định rằng, biểu tượng và hình tượng là hai cấp độ khác nhau. Biểu tượng thuộc cắp độ bản thể và hình tượng là cắp độ biểu hiện của. biểu tượng ấy trong một ngữ cảnh cụ thể. Chẳng hạn, trong văn học, hình tượng trăng xuất hiện đậm đặc để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời.
“Trong nhiều trường hợp, trăng trở thành biểu tượng mang những ý nghĩa khác nhau: trăng - tính dục (thơ Hàn Mặc Tử), trăng ~ ám ảnh (thơ Chế Lan Viên), trăng — ánh xạ vẻ tâm hồn (truyện ngắn Nguyễn Minh Châu). những ý nghĩa này tạo thành trường từ vựng biểu tượng trăng. Trong một ngữ cảnh không thể xuất hiện cing lúc toàn bộ các ý nghĩa biểu tượng mà chỉ có một, hoặc một số nét. Lúc này, biểu tượng trở thành hình tượng.
“Tác phẩm văn học tác động đến người đọc trước hết là hình tượng. Vấn đề là phải nhìn ra được tính biểu tượng trong hình tượng đó để thấy được quá. trình chuyển hóa từ biểu tượng sang hình tượng. Biểu tượng là chung, là tiểm ẩn.
Hình tượng là cái cá thể, cái biểu hiện. Hình tượng là một hình ảnh sáng tỏ về biểu tượng ở cắp độ biểu hiện. Quá trình đi từ biểu tượng đến hình tượng. 16 đồi hỏi người sáng tạo phải có một trình độ lĩnh hội và chuyển hóa nhất định.
Người viết phải cho người đọc thấy được sức sáng tạo và dấu ấn cá nhân của. người cằm bút trong việc sử dụng biểu tượng. Ví dụ: Từ biểu tượng “con cờ” trong ca dao, Tú Xương (Thương vợ) và Chế Lan Viên (Con cỏ) đã tạo ra biểu tượng con cò cho riêng mình. Nối tóm lại, hình tượng và biểu tượng là bai cấp độ phân biệt dựa trên phạm vi của cái được biểu đạt.
Biểu tượng sẵn có là tài sản chung của mọi người, hình tượng khai thác biểu tượng trong nghệ thuật qua quá trình chuyển. Biểu tượng phổ biến, khả biến, hình tượng độc đáo, đơn nhất. tượng là biểu tượng từ bình diện văn hóa chuyển sang bình diện chủ thể, cá thể hiện tại. Hình tượng (image) là ảnh dùng đẻ chuyên chởý nghĩa tỉnh thần của một vật, một sinh thể, một ý niệm, theo mối quan hệ tương đồng (ẩn ngầm hay hiển lộ) giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, nhằm đưa đến một cảm nhận trực tiếp và khơi gợi trí tưởng tượng của người tiếp nhận.
Tác phẩm văn học là "môi trường sống” của hình tượng. Biểu tượng (symbole) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khả năng biểu đạt một ý nghĩa có tính bền. vững và phổ quát. Những ý nghĩa ấy bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử của các công đồng.
Biểu tượng và hình tượng là hai cấp độ khác nhau. chúng có mối liên hệ nhưng tồn tại độc lập, không thể đồng nhất. mọi hình tượng đều trở thành biểu tượng, biểu tượng thiên về các ý nghĩa nằm. ngoài, vượt khỏi tính cụ thể cảm tính của hình tượng, chạm tới miễn vô thức sâu thắm trong tâm khám của nhà văn, đánh động, thức đây mọi linh cảm của người đọc Hình tượng không phải lúc nào cũng là biểu tượng mà tùy cảm quan văn hóa, tần số xuất hiện, tủy hoàn cảnh mà hình tượng mang ý nghĩa biểu tượng.
Nhìn chung, biểu tượng phải có tính tượng trưng, còn hình tượng thì không; biểu tượng đa nghĩa còn hình tượng đơn nghĩa.