Chương 1 Khái lược hành tình sáng tác của Nguyễn Ngọc Từ từ góc nhìn biểu tượng " Chương 2: Hệ 1g biểu tượng và céc ting nghĩa trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Từ Chương 3: Nghệ thuật xây dưng biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tự 12 CHƯƠNG L KHÁI LƯỢC HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN BIÊU TƯỢNG. GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 1. Bigu tượng (Symbole) Xi tư cách là một thực thể của tự nhiên và xã hội, con người ngay từ. khi sinh ra đã mang trong mình một khát khao được khám phá và chính phục thế giới xung quanh.
Trong thể giới bao la ấy, con người đã dần nhận ra sự. tồn tại một cách hiễn nhiền và bất biến của một hệ thống biểu tượng. Biểu tượng trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tỉnh thần nhân loi. Nó vừa mang những đặc trưng văn hỏa chung của từng nén mình, tôn giáo, vừa mang những sắc màu riêng của mỗi quốc gia, dân tộc “Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được” (E.
Vì lẽ đó biểu tượng hiểu một cách cơ bản, chính là hình ảnh của sự vật, biện tượng trong thế giới khách quan được lưu giữ trong chủ thể nhận thức, Nó là hình thức cao nhất của trực quan sinh động xuất hiện trên cơ sở những hiểu biết của con người về sự vật do tỉ giác đem lại. Nó không dùng ở tằm tiếp nhân thông thường, đơn giản mà đời hỏi rất su tri giác, suy ngẫm của một bộ óc thông minh và nhạy cảm. Thiếu đi sự nhận thức biểu tượng sẽ không tổn tại với bản chất thực của nó. Xét trên phương diện này biểu tượng không hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó là sự xây.
dụng lại thực tế sau khi đã được tí giác, nhưng những hình ảnh đồ cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể. Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được trí giác. Diều đó khẳng định tính tích cực của bộ óc con người bởi để "hình thành biểu tượng, nó phải nhờ sự pl hợp bổ sung lẫn nhau của ác giác quan và đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp một cách tỉnh tế. 14 "hình và sống đời sống của nhân loại.
“Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam cũng quan tâm đến biểu tượng và xác lập những quan điểm của mình. Trong số đó nỗi bật là quan điểm của các tác giả Hoàng Phê, Lê Bá Hán, Trin Dinh Sử, Nguyễn Khắc Phi. ‘Theo Tie điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): "Biểu tượng là hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, là hình thúc của nhân thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật ào giác quan ta đã chấm dứt Biểu tượng còn là kí hiệu bằng hình đồ họa trên màn hình máy tính, tượng trưng cho một chương trình, một file dit u, người sử dụng có thể kích chuột vào đầy để chọn một thao tác hoặc một ứng dung phần mềm nao đó” 42, tr92]. Quan điểm này dường như đã trả lời được câu hỏi i tại sao biểu tượng hiện nay hầu hết được tắt cả các ngành khoa học ứng dụng, Tắt cả đều tìm thấyở biểu tượng một vị trí tối ưu của nó.
“Theo Từ điền dhuật ngữ văn học: “Điều tượng như là thuật ngữ của mỹ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng. Nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ. Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự ái hiện thể gi cho con người và cuộc sống hiện lên y như thật.
Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. Bằng hình tượng nghệ thuật sáng tạo ra một thể giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” [30, tr24] “Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học biểu tượng được hiểu theo hai trường nghĩa ‘Theo nghĩa rộng biểu tượng là đặc trưng phản anh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ thuật “Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, "vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đầy, vừa thể hiện một quan Is niệm, một tư tưởng hay một iết Ii siu xa vé con người và cuộc đời [30, 24]. Dù đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng ching ta vẫn u được điểm chung của biểu tượng là một hiện tượng vật thể, nhờ thể hiện trong đó một nội dung cụ thể - cảm tính mà hiện tượng này thể hiện, trình ra những ý nghĩa, những giá tr trừu xuất nào đó. Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế bởi vi nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tỉ giác, nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể.
Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về: hiện tượng khách quan đã được trí giác. Có thể nói u tượng chính là một loại hình ngôn ngữ- lệu Biểu tượng xuyên qua thời gian lịch sử đã bị xóa mờ hoặc bị chìm khuất đưới những lớp trim tích văn hóa mỗi ngày một diy hơn. Vì thể, biểu tượng luôn được mã hóa, muốn giải mã đòi hỏi phải có kinh nghiệm văn hóa — tôn giáo, nhất là phái có tri thức và phương pháp khoa học. Hơn nữa biểu tượng thường đa nghĩa và chấp nhận những cách lý giải khác nhau.
Chẳng, hạn trong ca dao Việt Nam hình ảnh con cò được nhắc đến rắt nhiều: "Con cò. cô, cái vac, edi nông.” như một biểu tượng của người phụ nữ, những người mẹ, người vợ tần tảo, cơ cực. Biểu tượng bao giờ. cũng mang tính chất đa trị Như vậy, biểu tượng là một khái niệm khó có thể nắm bắt một cách chính xác, nhưng chúng ta luôn luôn ý thức nó là một nhân tổ quan trong, luôn chứa đựng tong mình những giá tị đã được vĩnh hằng hóa.
Nó là một thực thể số 1g động, luôn luôn có sự luân chuyển, dip déi nghĩa liên tục. Nó được nuôi dưỡng bằng tư duy, bằng những tưởng tượng phong phú của con người. Đời sống của con người không bao giờ bớt phức tạp di va biểu tượng vi thể cũng không bao giờ đơn giản hơn. Chính những phức tạp của cuộc sống dội vào tâm tự con người những suy tưởng không cùng, để ồi từ đó, chúng lạ 16 nnén vào hệ thống biểu tượng, Đó là con đường tắt của đời sng và cũng là xu hướng tồn tại và phát triển tắt yếu của biểu tượng 1.
2 Biểu tượng văn hị Biểu tượng văn hóa là những khái niệm nằm trong lĩnh vực văn hóa để chỉ một loại tín hiệu riêng rộng hơn môi trường văn hóa, đồng thời có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu văn hóa. Biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng. tín hiệu dân gian, hiển hiện tong các phong tục, lễ hồi, tập quán của con người hoặc có khi chúng được kí thác ở thể giới tâm linh, ẫn chứa trong các "hoại đông văn hóa dân gian và nghệ thuật tuyển thống như tục ăn tẳu, lễ hội cầu mưa. Những giá trị vật chất và tính thẫn tiêu bi cửa dân tộc theo thời gian đã được kết tỉnh thành hệ thống biểu trợng văn hóa truyền thống Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm và được coi như "té bào" của đời sống văn hoá.
Do đó người ta ngày cảng tìm cách "giải mà" ngôn ngữ biểu tượng, vừa để mở rộng trường nhận thức, khám ph ra những giá trị văn hoá truyền thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng - xã hội, vừa nhằm làm chủ một "năng lượng tinh thin” của một loại hình ngôn ngữ đặc biệt mà ta vừa mới bắt đầu khẳng định v sức mạnh của nó. Như vậy các nhà nghiên cứu văn hoá đều quan tâm đến những biểu tượng văn hoá bởi lẽ nó là .đơn vị cơ bản của văn hoá, là hạt nhân di truyền xã hội và quan trọng hơn là nó sinh ra nhờ năng lực biểu tượng hoá của con người Nhu vậy, văn hoá được hình thành và tồn tại nhờ vào trí tuệ và sự sắng tạo ra các biểu tượng của con người, Bán thân một sự vật hiện tượng cụ thể nào đó vẫn chưa là văn hoá, nếu như chưa cho nó mộtÿ nghĩa, một gid tri nào. Biểu tượng được cả cộng đồng xã hội chấp nhận đồng thời được xem như: là bảng giá tị định hướng của toàn thể công đồng. Đó cũng là tỉnh văn hóa của biểu tượng.
Chẳng hạn, hoa sen là loài hoa sống trong bùn lẫy nhưng vẫn luôn tỏa hương thom “Gin bin mi ching hoi tanh mùi bùn”, Do vậy từ xa 19 tâm hồn. Nhà văn từng tim sự: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm. trạng lộn xôn, ngỗn ngang. Đó là ngọn gió cô đơn (Gió 19, ngọn gió chướng dầy nỗi niềm (Gió mùa thao dhc), l tgọn gió chạy "nghe thông thống trong long” (Hué ly ching) Như vậy, biểu tượng trong văn học là một sự vật, hình ảnh được dựng.
lên bằng vật chất mang gi tr thẩm mỹ, gơi lên những iên tưởng về bản chất của một sự vật nào đó. Tuy nhiên biểu tượng luôn ở cấp độ cao hơn hình ảnh. và không phải hình ảnh nào cũng là biểu tượng. Có những hình ảnh chỉ mang tính định danh, gợi sự vật, sự việc như nó vốn có trong thực tế.
Nhưng có những hình ảnh được lựa chọn để đưa vào tác phẩm theo một ý đổ nào đó của tác giả, khi đó chúng có ý nghĩa rộng hơn và trừu tượng hơn, khác với ý nghĩa ban đầu. Cùng với sự cộng hưởng của yếu tố văn hỏa, lịch sử, biểu tượng trong tác phẩm luôn mở ra nhiều tằng nghĩa với những chiễu kích liên tưởng, khác nhau. Nhà văn thường dụng công xây dựng những biểu tượng thẩm mỹ. để tăng cường giá trị biểu đạt vàchiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm.
Biểu tượng thấm mỹ luôn luôn chứa khả năng nảy sinh quan niệm, dồn nén các ý nghĩa Điều này mang đến cho bạn đọc những khoái cảm của trí tuệ, của chiêm. Và đó cũng chính là sức hấp dẫn của văn chương.2, HANH TRINH SANG TAC CUA NGUYEN NGOC TU Nguyễn Ngọc Tư là nha văn trẻ của vùng tân cùng của tổ quốc. Sinh ra nơi mênh mông sông nước, Nguyễn Ngọc Tư mang đến cho văn học Việt Nam một hơi thở mới nồng nàn chất chân quê Nam Bộ.