Luận văn Thạc sĩ: Thế giới biểu tượng trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xã hội và nhân văn thế giới biểu tượng trong đội gạo lên chùa của nguyễn xuân khánh, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ
129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá luận văn thạc sĩ về thế giới biểu tượng Đội Gạo Lên Chùa

Luận văn thạc sĩ "Thế giới biểu tượng trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh" là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải mã các tầng ý nghĩa ẩn sau hệ thống hình ảnh nghệ thuật của tác phẩm. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ giá trị tư tưởng mà còn khẳng định vị thế của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh trong nền văn học đương đại Việt Nam. Phân tích này sẽ đi sâu vào cấu trúc và những phát hiện chính của luận văn, cung cấp một cái nhìn toàn diện về cách các biểu tượng được xây dựng và vận hành, từ đó làm nổi bật phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả.

1.1. Tổng quan về nhà văn Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm

Nguyễn Xuân Khánh là một tên tuổi lớn, người miệt mài đổi mới tư duy tiểu thuyết văn hóa - lịch sử. Các tác phẩm của ông như Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn và đặc biệt là Đội gạo lên chùa đã tạo được tiếng vang lớn. Đội gạo lên chùa lấy bối cảnh một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam, từ thời Pháp thuộc đến sau chiến tranh. Tác phẩm không chỉ tái hiện lịch sử mà còn là hành trình tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc. Luận văn đã chỉ ra rằng, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng lịch sử làm cái cớ để "nói chuyện đời, chuyện xã hội", qua đó đặt ra những vấn đề mang tầm vóc triết học và nhân sinh sâu sắc. Phong cách của ông là sự trở về với lối tự sự truyền thống nhưng được "làm mới" trong tư duy và "lạ hóa" trong kỹ thuật viết, tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn văn học

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa. Công trình này đặt ra mục tiêu khảo sát, phân loại và giải mã các lớp ý nghĩa của những biểu tượng tiêu biểu. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các mã biểu tượng chính: biểu tượng mang tâm thức Mẫu, biểu tượng mang cảm hứng Phật giáo trong văn học, và các biểu tượng phồn thực. Bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học như phương pháp hệ thống - cấu trúc, phân tích - tổng hợp, và so sánh - đối chiếu, luận văn đã cung cấp một cơ sở lý luận văn học vững chắc. Công trình khẳng định việc giải mã "thế giới biểu tượng" là chìa khóa để thấu hiểu những thông điệp mà nhà văn gửi gắm, đồng thời làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.

II. Thách thức khi phân tích biểu tượng trong Đội Gạo Lên Chùa

Việc phân tích biểu tượng trong Đội gạo lên chùa đặt ra nhiều thách thức do tính phức tạp và đa tầng nghĩa của chúng. Các biểu tượng không tồn tại riêng lẻ mà được dệt nên từ một tấm thảm văn hóa dày đặc, bao gồm tín ngưỡng dân gian, triết lý Phật giáo, và những biến động của bối cảnh lịch sử xã hội. Để giải mã thành công, người nghiên cứu cần có kiến thức liên ngành sâu rộng và một phương pháp tiếp cận tinh tế, tránh việc diễn giải một cách võ đoán hay đơn giản hóa thông điệp nghệ thuật của nhà văn.

2.1. Sự phức tạp của hệ thống biểu tượng đa nguồn gốc

Hệ thống biểu tượng trong tác phẩm được kiến tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Đó là sự dung hợp giữa biểu tượng văn hóa bản địa của văn hóa làng xã Bắc Bộ và các biểu tượng Phật giáo đã được Việt hóa sâu sắc. Luận văn chỉ ra rằng, những biểu tượng như "rừng", "giếng", "hang động" vừa mang dấu ấn của tâm thức Mẫu nguyên sơ, vừa phảng phất triết lý về sự bao bọc, che chở của nhà Phật. Sự chồng lớp ý nghĩa này đòi hỏi một cái nhìn biện chứng. Người phân tích phải bóc tách từng lớp nghĩa, đặt chúng trong mối tương quan với nhau và với chỉnh thể tác phẩm để tìm ra ý nghĩa biểu tượng cốt lõi.

2.2. Bối cảnh lịch sử và sự biến đổi của ý nghĩa biểu tượng

Các biểu tượng trong Đội gạo lên chùa không phải là những hằng số bất biến. Ý nghĩa của chúng vận động và biến đổi theo dòng chảy của lịch sử được tái hiện trong tác phẩm. Ví dụ, hình ảnh ngôi chùa không chỉ là một không gian nghệ thuật tâm linh tĩnh tại mà còn là nơi chứng kiến những biến cố dữ dội: từ nơi nương náu của người dân, đến nơi bị đập phá trong cải cách ruộng đất. Theo luận văn, "ngôi chùa trở thành trung tâm điều hòa những đối nghịch, bi kịch, nuôi dưỡng và che chở cả những linh hồn không nơi nương tựa". Do đó, việc phân tích biểu tượng phải gắn liền với việc phân tích thời gian nghệ thuật và bối cảnh lịch sử cụ thể mà nó xuất hiện.

III. Giải mã hệ thống biểu tượng mang tâm thức Mẫu trong tiểu thuyết

Một trong những phát hiện quan trọng của luận văn là việc làm sáng tỏ hệ thống biểu tượng mang tâm thức Mẫu, vốn là một mạch ngầm chảy trong văn hóa Việt. Nguyễn Xuân Khánh đã khéo léo khai thác các cổ mẫu (archetype) này để thể hiện khát vọng trở về cội nguồn, tìm kiếm sự an nhiên và che chở. Các biểu tượng này thường gắn với nguyên lý âm, với đất, với nước, thể hiện sự bao dung và sức sống nguyên thủy của người Mẹ Đất.

3.1. Phân tích ý nghĩa biểu tượng Hang Hầm và Giếng nước

Luận văn chỉ ra, các biểu tượng "hang", "hầm" xuất hiện 78 lần, mang ý nghĩa về nơi trú ẩn an toàn, gợi liên tưởng đến bào thai của người mẹ. Đây là không gian che chở các nhân vật khỏi hiểm nguy, như khi Nguyệt trốn khỏi sự truy đuổi của Bernard hay khi mẹ con bà Nim thoát khỏi đội cải cách. Tương tự, "giếng nước" (xuất hiện 47 lần) không chỉ là nguồn sống vật chất mà còn là biểu tượng của sự trong sạch, khởi nguyên và linh thiêng. Nước giếng chùa Sọ được mô tả là có "hương đất của nguồn linh khí", là nơi nhân vật Rêu tìm thấy sự thanh thản và hòa mình vào cõi vĩnh hằng. Những biểu tượng này thể hiện sâu sắc khát vọng nguyên sơ của con người về sự an toàn và được bao bọc.

3.2. Rừng Biểu tượng về cõi ẩn náu an nhiên của con người

Biểu tượng "rừng" xuất hiện dày đặc (168 lần), trở thành một không gian mang tính Mẫu điển hình. Rừng là người mẹ thiên nhiên vĩ đại, vừa bí ẩn vừa nhân từ. Trong tác phẩm, rừng là nơi che chở dân làng khỏi giặc Pháp, là nơi cứu sống sư Khoan Độ, là nơi An tìm lại được sự cân bằng tâm lý sau cú sốc kinh hoàng. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xây dựng rừng như một cõi ẩn náu an nhiên, nơi con người được bảo vệ và chữa lành. Luận văn nhận định: "Rừng trở thành người mẹ thiên nhiên vĩ đại, cứu rỗi linh hồn, bao bọc, che chở cho đàn con". Nó không chỉ là không gian vật lý mà còn là không gian tâm linh, một biểu tượng quan trọng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

IV. Phương pháp luận giải các biểu tượng mang cảm quan Phật giáo

Phật giáo là trục tư tưởng xuyên suốt của Đội gạo lên chùa. Luận văn đã sử dụng một phương pháp tiếp cận tinh tế để luận giải các biểu tượng Phật giáo, không phải dưới góc độ giáo lý kinh điển mà là một "lối sống", một cảm quan đã thấm sâu vào tâm thức người Việt. Các biểu tượng này thể hiện triết lý từ bi, hỉ xả, và con đường tìm kiếm sự giác ngộ ngay giữa cõi trần ai khổ ải. Đây là đóng góp cốt lõi của luận văn văn học Việt Nam này.

4.1. Dấu chỉ Phật tính qua hệ thống Phật danh của nhân vật

Nguyễn Xuân Khánh không mô tả Phật tính một cách trừu tượng. Ông cụ thể hóa nó qua hệ thống tên nhân vật (Phật danh). Luận văn phân tích sâu sắc các nhân vật như sư Vô Úy (không sợ hãi), Vô Chấp (không cố chấp), Khoan Độ (khoan dung, cứu độ), Khoan Hỏa (hiền hòa). Mỗi cái tên là một biểu tượng cho một phẩm chất của đạo Phật. Sư Vô Úy là hiện thân của lòng từ bi, che chở tất cả chúng sinh. Sư Khoan Độ, từ một kẻ giang hồ, đã tìm thấy sự cứu rỗi và trở thành người hộ pháp. Việc phân tích nhân vật qua Phật danh cho thấy Phật tính không phải là thứ gì cao siêu mà luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, chỉ chờ duyên lành để thức tỉnh.

4.2. Chùa tiếng chuông Quyền năng rửa sạch u uẩn tâm hồn

Ngôi chùa làng Sọ là biểu tượng trung tâm của tác phẩm, xuất hiện tới 685 lần. Luận văn khẳng định chùa không chỉ là một công trình kiến trúc mà là một thực thể sống, một không gian nghệ thuật linh thiêng có quyền năng chữa lành. Nó là nơi "rửa sạch những u uẩn trong tâm hồn". Tiếng chuông chùa, tiếng mõ tụng kinh trở thành những âm thanh cứu rỗi, đem lại sự bình yên cho những tâm hồn đau khổ. Ngay cả những nhân vật tưởng như xấu xa nhất cũng tìm thấy sự an ủi nơi cửa Phật. Biểu tượng ngôi chùa thể hiện sức sống mãnh liệt của văn hóa Phật giáo, một điểm tựa tinh thần vững chãi cho con người Việt Nam qua bao thăng trầm lịch sử.

V. Ứng dụng kết quả nghiên cứu Giá trị nội dung và nghệ thuật

Những phân tích sâu sắc về thế giới biểu tượng trong luận văn không chỉ là bài tập học thuật. Chúng trực tiếp làm sáng tỏ những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của Đội gạo lên chùa. Việc giải mã thành công hệ thống biểu tượng đã khẳng định tài năng của Nguyễn Xuân Khánh trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật để chuyên chở những tư tưởng lớn lao, đồng thời cung cấp một mô hình tham khảo quý giá cho các nghiên cứu văn học sau này.

5.1. Khẳng định phong cách nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh

Thông qua việc xây dựng một thế giới biểu tượng phong phú và đa tầng, phong cách nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh được định hình rõ nét. Đó là phong cách của một nhà văn - học giả, uyên bác về văn hóa và lịch sử. Ông không chỉ kể chuyện mà còn đối thoại, luận giải và chiêm nghiệm. Luận văn kết luận, thi pháp học của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tự sự truyền thống và tư duy hiện đại, giữa hiện thực và huyền thoại, giữa chất văn xuôi và chất thơ. Hệ thống biểu tượng chính là phương tiện hữu hiệu nhất để ông thực hiện ý đồ nghệ thuật đó, tạo ra một không gian tiểu thuyết vừa gần gũi vừa sâu thẳm.

5.2. Gợi mở hướng nghiên cứu cho các khóa luận tốt nghiệp

Công trình nghiên cứu này là một tài liệu tham khảo chất lượng cho sinh viên và học viên cao học. Nó cung cấp một tổng quan tình hình nghiên cứu đầy đủ và một phương pháp nghiên cứu văn học bài bản. Những ai đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp văn học có thể học hỏi cách tiếp cận tác phẩm từ góc độ văn hóa học và thi pháp học. Luận văn mở ra những hướng đi mới, khuyến khích các nhà nghiên cứu trẻ tiếp tục khám phá các tầng nghĩa khác trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh, hoặc áp dụng phương pháp tương tự để phân tích các tác phẩm văn học quan trọng khác trong dòng văn học đương đại Việt Nam.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn thế giới biểu tượng trong đội gạo lên chùa của nguyễn xuân khánh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 BOI G40 LÊN CHÙA TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO “TIỂU THUYẾT NGUYÊN XUÂN KHÁNH L1. NGUYÊN XUÂN KHÁNH, NGƯỜI NGHỆ SỈ MIỆT MÀI ĐÔI MỚI TỪ DUY TIỂU THUYẾT VĂN HÓA - LỊCH SỬ 1.11, Từ việc “làm mới” tự duy iễu thuyết truyền thông Đổi tới văn học Việt Narn nồi tiến và số phận văn hôa nghệ thuật Việt Nam dương dại nói chúng, Dại hột V (năm 1986) cửa Đảng là một dẫu ấn lớn tạo nên bước ngoại quan trong Hung quá. ình phát tiễn, Với nh thận “với tối", "dân hú" mà Đăng khuyến khích, các nhàấn không còn bị gồbổ theo những quy phạm, khuôn khổ của giả dogn rước nữa mì dược cấp quyền tự do sáng tạo, bể nghiệm. Các nhà văn luô trăn tử, chủ động m cho mình một hướng di mới thch hợp với sự vận động của xã hội - thời dại và xu “hướng vận dộng của bản thần văn học, Di cốt yếu của cuộc dổi mới này shính là việc thay đổi tr duy, thay đổi cách ngH, cách lâm, sao cho đúng và phủ hợp với quy luật khich quan: “trong quá tình dỗi mới tư duy, it nhiên không chỉ cổ phê phần mà chủ yếu là pải suy ngH, khám phá, sống tao, cá nhân và tập thể cũng đôi mới vã sing tạo tho tính thẫn Nghị quyết Đại hội Đăng lận thứ VI [15,108].

Tự duy v văn học nghệ thật cng nằm chung trông xụ hướng đồ Minh chimg cho diéu nây lã các gương nút nội bật nhự Lẻ Lưu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Lê Mình Khu, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài v. Họ mạnh dạn thể biện mình trên nhiều phường diện từ truyện ngắn đến tiêu thuyế, th, kịch và lí luận phê bánh, từ hay dồi hệ thẳng dỀ t, chủ để đến việc phản ánh và mô tà những góc Xhuất của những tầng âu nội giới con người, và quan trọng nhất à thay đổi tư duy sống tạo nghệ thuật. Đó cũng là sự hỏa nhập phần nảo với xu hưởng phat viễn ia văn học nghệ huật trọng khu vực và trên thgiới Trong những năm gẵn dây, tiêu thuyết vn hỏa - lịch sử đã thực sự tởi thành mỗi quan tâm của nhiễu người, nhất là su những thình công của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hai, VO Thi Hao, y, Những sáng tác dò khơi gợi cho chúng ta cch nghĩ mới về tiêu huyết is sử vã số phân của nỗ Tu thuyết viết v lịch sử, vết ề văn hóa tuyền thắng dân tộc lã sự nhận thức lại, t nhận lại các giả tị tuyễn thông bằng nghệ thuật hay nói cách khá là diễn ngôn nghệ thuật về lịch sử văn bổn xã hội quá khử. Theo trường nhịn của th pháp hoyễn thoại, đường l giai đoạn phục nh và biện giả những giá tị cũ trên nề những nhận thức mới về cuộc sông vã các giá mị nhân văn, Lịch sử là một hiện thực đặc thô, nồ ty cổ thất nhưng dã thuốc về quả khó, tuy quá khứ nhưng nó vẫn là một bộ phân của hôm nay, không tể ích rồi bôm nay, hàm chứa nhiều Ấn của xã hội và thôi dạ, Trọng hai cuộc kháng chiến chống Phá và chống Mỹ cũng cổ tiếu thuyết lịch sử, nhưng đỏ là loại iu huyết lịch sử ích mạng, viết về các m cương tranh đầu của lãnh tụ cách mạng thời ể, các chiến địch, các cuố khổi ngHia, và rong dé ede sy ign lịch sử iễn ra theo dỗ lập nhị nguyễn, duy luàt ấu ranh giải ep, dich ta, tiến bộ, phần động, ông dân với đa chủ, vô sản với tự sản, người yêu nước, kệ bản nước, ngoại âm, trong đồ thường là ta ‘dich xu, tating ịch thưa, chủ yếu lã ca ngợi chiến thẳng tạ thình một sứ hính tị hen quan điểm chính đăng Đậc điểm của nó thưởng cổ tính hư cẫu, ô hồng, điểm nhìn ý thức hệ, diễn ngôn chính tr, và các thứ đối lập khác Nhiệm vụ của tiêu tuyẾt à ngợi ca anh hùng, tuyên thyễn tắm gương chiễnđẫu, cỗ vũ nh thân Bi sinh vi nghĩa lớn.

Tiề thuyết gi dogn ny thudng quan âm hành động chiến đầu bên ngoài, di âu vàn phương điện tâm lí nhân tính, vỏ thức, số phận, Với quan điểm như vậy, tiền thuyết không tánh khỏi hp bởi về phương diện ÿ thúc bệ chín t các vẫn w 8 pong ph cua vin hoa din tb hấu như bị bộ qua, vỉ cho lã duy ỉ tín di đoạn, cổ hú, v. Thời độ chúng a khổ mổ cỏ dược cá tiễu thuyết nhực “la Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hão, Nguyễn Mộng Giác, v. Nỗu có cũng chưa chắc đã cỗ được số phận yên ổn. ChuyỂn hướng vẫn hóa tong tiên thuyết ch sử của ta phải được coi là một bước dột phí, một bước tiền, một hướng có tính phổ hi trên thể giới.

Viết về ch sử, lầu nay ta chỉ quen với cải nhĩn một chiễ, đã cố hữu trung tự duy, Những một kh cuộc sông đã thay đổi, phát kiễn ắc yêu nảy sinh cách tư duy mới về những sự kiện, nhân vật lish sử trước đấy, v. Hn ai rong chúng ta công bết uyễn ngôn nổi ng ca Descartes: "Tôi đuy vậy ôi tổn tá”. Mà đã nồi: ôi tự duy" tức là" duy về cải gì đó Cải gì đồ ở đấy, trong quan diém Descartes, ách khối chủ. thể một cích cơ giới.

Nguyễn Xuân Khánh cũng vậy, lí do dễ túc phẩm của công gây iỂng vang sau một thờ gan đài vắng bỏng sau khỉ gặp “oi nạn nghề nghiệp” chững tô ông dã ấn mình dễ "ự duy” và tp tục lên ti đến hàm nay với thành quả đăng ân tụng. “Hỗ Quý ly, Mẫu Thượng Ngân và Đội gụo (ên của là những tc phẩm vế dễ ải về ch sử, vấn hôa với những biển thiền của thời dại dân tộc, in người. Từ đồ nhà văn dưa ra những kiến giả cia minh lịch sử dân hùng ag đẹp văn hoá của người Việt và hiện thục của cuộc sống với những SỐ phận con người chịu sự va đặp của ich sử: “Vit vẻ lịch sử nhưng Nguyễn “Xuân Khánh không nhẫm mục địch phân ảnh lịch sử mã lich sử chỉ ái cổ đỂ nhà văn ni chuyện đời, chuyện xã hội” [S0, tr 52). Con người rong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không ph chỉ của một thời đại mà của mọi thải Song ông không đưa vào đổ cái nhị tiêu cục hay tuyệt dBi hoa với những vẫn để xẫu - 1, den - tng, địch ta, vv.

main tte bing thi độ nhân bản và khoan dụng, Nha vn về với ôi viết đại tự sự gẵn với tuyễn thẳng, với đ ti quen thuộc của vấn chương ruyễn thốn là lch sử, Rhine " chiến chẳng Phip, ching MM cải cách mộng đất, thời kì ho bình, v.v, Dấu ấn của ỗi viết tyễn thống thể hiện rõ nết ở bộ ba tiểu huyết này của Nguyễn Xuân Khánh nhưng đi được "lâm mái” trong cách tr duy Ha đến những "lạ ha” trong kí thuật viết Nếu việc "lầm mới" ư duy tiểu tuyết tuyển thông dem lạ thành sông về mặt nội dụng thí những "lạ ha” trong k thuật viết chính à hình thức gp phần tạo nên ứ ảnh công tong tiêu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. “Chúng ta đu biết khi nổi đếný nghĩa của hình thúc nghệ thuật, điều đầu tiến thường được nhắc đn đô là hình thức phụ giúp nội đụng Từ xưa, Không Tử đã nói “Ngôn chỉ vô văn, hành nh bắt viễn (Lời không văn vẻ, Xhông đi được x3). Trong Văn Tôm Điều Jong, Lưu Hiệp cũng viếc “Sách và lời của thánh nhân dễu gọi ăn chương, không văn về sao được? Nước tỉnh lông tì kết thành gơn sóng. Cây tĩnh chắc thì nữ được hoa, đồ à văn phụ thuộc vào chấ Hỗ báo mà không có vẫn tỉ da vàng như của chỗ de con lê cơn chủy có du cứng, nhưng mẫu da nổ phẩ sơn đó, đó Hà chất nhời văn vậy” [dẫn heo 37, 6S 66].

đây vai tô của hình th là lâm nỗi bật lâm đẹp nội dụng. Đương thôi và cho dến hiện nay, chủ nghĩa hình thức Nga vẫn thường bị hiểu là một khuynh hướng nghiên cứu í sinh nội dụng chờ hình thức, bì sinh tính th cho ngôn ng, bi sinh tư trởng cho nghệ thuật Trên thực tế, điều mà các nhà hình thức chủ nghĩ đi ìm là âm cách nào để sâm nhận sâu sắc những quy hật nộ tại vàphổ quất của văn bọc Mle da chon i vig sẵn với myễn thông song Nguyễn Xuân Khánh in thúc được iệ in “a ha” tog That vit bi là Mhanh hướng ‘hung ea vn oe hu ign da “La hod” in đâu tiên được V, Siớlotdly + rộ thnh iên quan trong ci rig pi hin he Nga th lý XX db xuất Theo ông và shang ngubi cng nim, pi im ma ag ai oe gui quent in hin vi tướng a hos th ign mt te di 2 nghệ thuật, và ã nỗ lực xoá bồ sy non sot phương thức thễ hiện, mã trước tế là th giớt ngôn từ trong tác phẩm văn chương "Lạ ho ũng có tế là một cách phản ing với những quy phạm trong ác giai đoạn, cc trà lưu văn học mã tỉnh định vị quả lớn, khiến giới sing tá rơi vào công thức, dẫn đến hậu quả là gui dục vô cảm wong iếp nhận nghệ thuật "bởi vi thông thường son người nhận thức sự vật the thôi quen, đđ, hình ảnh vỀsự vật trong 7 nhận thức của chúng ta yêu dẫn tính hấp dẫn, ngược lạ, sự t nhận của sơn người về th giới cũng mắt dẫn tính năng động. Đổi với văn chương, đồ là một trở ngại, hơn nữ là một đề tối ki" [S4] `Với tu cách là một thủ pháp, “la hóa” thể hiện trên các bình diện như. ngôn ngơ, kế cẩu, điểm nhịn ân thật, cổt truyền, vi.

Trước Nguyễn Xuân Khinh, lạ hoi” thực sự cổ biểu hiện rõ rộ và có (hành tựu lớn rong nhiều Sáng tác của các nhà văn thời kì đổi mới với cc ên ôi như Phạm Thi Hod Nguyễn Huy Thiệp, Báo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hỗ Anh Thấi, và. Và với Nguyễn Xuân Khánh, "lạ hội" rung kĩ thuật iết mang máu sắc riêng, đúng như con người của mộ nhà văn từng ti Khối diễm của lạ hoá là ngôn tứ Việc m kiến một hình thúc fn dat msi cho lúc phẩm nghệ thuật càng là một nhủ cầu của bất kì nhà văn nào, ngay cả những người nghèo nàn nhất về chữ nghĩa, Có thé tim thấy võ sổ cách điễn ati dom, thâm sâu, hắp dẫn rong nhiều tiêu huyết, truyện ngắn đương đại "với cc hủ pháp so sánh,ví xơ, giỗu nại, nghịch ngữ. Đăng chủ l sưtim, kiểm cách thế hiện mới cho các iếu li văn tẫn thuật lời đổi thos, v9 tie là ác bình điện rất cơ bản của ngôn từ tiễu thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ