CHƯƠNG 1 BOI G40 LÊN CHÙA TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO “TIỂU THUYẾT NGUYÊN XUÂN KHÁNH L1. NGUYÊN XUÂN KHÁNH, NGƯỜI NGHỆ SỈ MIỆT MÀI ĐÔI MỚI TỪ DUY TIỂU THUYẾT VĂN HÓA - LỊCH SỬ 1.11, Từ việc “làm mới” tự duy iễu thuyết truyền thông Đổi tới văn học Việt Narn nồi tiến và số phận văn hôa nghệ thuật Việt Nam dương dại nói chúng, Dại hột V (năm 1986) cửa Đảng là một dẫu ấn lớn tạo nên bước ngoại quan trong Hung quá. ình phát tiễn, Với nh thận “với tối", "dân hú" mà Đăng khuyến khích, các nhàấn không còn bị gồbổ theo những quy phạm, khuôn khổ của giả dogn rước nữa mì dược cấp quyền tự do sáng tạo, bể nghiệm. Các nhà văn luô trăn tử, chủ động m cho mình một hướng di mới thch hợp với sự vận động của xã hội - thời dại và xu “hướng vận dộng của bản thần văn học, Di cốt yếu của cuộc dổi mới này shính là việc thay đổi tr duy, thay đổi cách ngH, cách lâm, sao cho đúng và phủ hợp với quy luật khich quan: “trong quá tình dỗi mới tư duy, it nhiên không chỉ cổ phê phần mà chủ yếu là pải suy ngH, khám phá, sống tao, cá nhân và tập thể cũng đôi mới vã sing tạo tho tính thẫn Nghị quyết Đại hội Đăng lận thứ VI [15,108].
Tự duy v văn học nghệ thật cng nằm chung trông xụ hướng đồ Minh chimg cho diéu nây lã các gương nút nội bật nhự Lẻ Lưu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Lê Mình Khu, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài v. Họ mạnh dạn thể biện mình trên nhiều phường diện từ truyện ngắn đến tiêu thuyế, th, kịch và lí luận phê bánh, từ hay dồi hệ thẳng dỀ t, chủ để đến việc phản ánh và mô tà những góc Xhuất của những tầng âu nội giới con người, và quan trọng nhất à thay đổi tư duy sống tạo nghệ thuật. Đó cũng là sự hỏa nhập phần nảo với xu hưởng phat viễn ia văn học nghệ huật trọng khu vực và trên thgiới Trong những năm gẵn dây, tiêu thuyết vn hỏa - lịch sử đã thực sự tởi thành mỗi quan tâm của nhiễu người, nhất là su những thình công của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Quốc Hai, VO Thi Hao, y, Những sáng tác dò khơi gợi cho chúng ta cch nghĩ mới về tiêu huyết is sử vã số phân của nỗ Tu thuyết viết v lịch sử, vết ề văn hóa tuyền thắng dân tộc lã sự nhận thức lại, t nhận lại các giả tị tuyễn thông bằng nghệ thuật hay nói cách khá là diễn ngôn nghệ thuật về lịch sử văn bổn xã hội quá khử. Theo trường nhịn của th pháp hoyễn thoại, đường l giai đoạn phục nh và biện giả những giá tị cũ trên nề những nhận thức mới về cuộc sông vã các giá mị nhân văn, Lịch sử là một hiện thực đặc thô, nồ ty cổ thất nhưng dã thuốc về quả khó, tuy quá khứ nhưng nó vẫn là một bộ phân của hôm nay, không tể ích rồi bôm nay, hàm chứa nhiều Ấn của xã hội và thôi dạ, Trọng hai cuộc kháng chiến chống Phá và chống Mỹ cũng cổ tiếu thuyết lịch sử, nhưng đỏ là loại iu huyết lịch sử ích mạng, viết về các m cương tranh đầu của lãnh tụ cách mạng thời ể, các chiến địch, các cuố khổi ngHia, và rong dé ede sy ign lịch sử iễn ra theo dỗ lập nhị nguyễn, duy luàt ấu ranh giải ep, dich ta, tiến bộ, phần động, ông dân với đa chủ, vô sản với tự sản, người yêu nước, kệ bản nước, ngoại âm, trong đồ thường là ta ‘dich xu, tating ịch thưa, chủ yếu lã ca ngợi chiến thẳng tạ thình một sứ hính tị hen quan điểm chính đăng Đậc điểm của nó thưởng cổ tính hư cẫu, ô hồng, điểm nhìn ý thức hệ, diễn ngôn chính tr, và các thứ đối lập khác Nhiệm vụ của tiêu tuyẾt à ngợi ca anh hùng, tuyên thyễn tắm gương chiễnđẫu, cỗ vũ nh thân Bi sinh vi nghĩa lớn.
Tiề thuyết gi dogn ny thudng quan âm hành động chiến đầu bên ngoài, di âu vàn phương điện tâm lí nhân tính, vỏ thức, số phận, Với quan điểm như vậy, tiền thuyết không tánh khỏi hp bởi về phương diện ÿ thúc bệ chín t các vẫn w 8 pong ph cua vin hoa din tb hấu như bị bộ qua, vỉ cho lã duy ỉ tín di đoạn, cổ hú, v. Thời độ chúng a khổ mổ cỏ dược cá tiễu thuyết nhực “la Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hão, Nguyễn Mộng Giác, v. Nỗu có cũng chưa chắc đã cỗ được số phận yên ổn. ChuyỂn hướng vẫn hóa tong tiên thuyết ch sử của ta phải được coi là một bước dột phí, một bước tiền, một hướng có tính phổ hi trên thể giới.
Viết về ch sử, lầu nay ta chỉ quen với cải nhĩn một chiễ, đã cố hữu trung tự duy, Những một kh cuộc sông đã thay đổi, phát kiễn ắc yêu nảy sinh cách tư duy mới về những sự kiện, nhân vật lish sử trước đấy, v. Hn ai rong chúng ta công bết uyễn ngôn nổi ng ca Descartes: "Tôi đuy vậy ôi tổn tá”. Mà đã nồi: ôi tự duy" tức là" duy về cải gì đó Cải gì đồ ở đấy, trong quan diém Descartes, ách khối chủ. thể một cích cơ giới.
Nguyễn Xuân Khánh cũng vậy, lí do dễ túc phẩm của công gây iỂng vang sau một thờ gan đài vắng bỏng sau khỉ gặp “oi nạn nghề nghiệp” chững tô ông dã ấn mình dễ "ự duy” và tp tục lên ti đến hàm nay với thành quả đăng ân tụng. “Hỗ Quý ly, Mẫu Thượng Ngân và Đội gụo (ên của là những tc phẩm vế dễ ải về ch sử, vấn hôa với những biển thiền của thời dại dân tộc, in người. Từ đồ nhà văn dưa ra những kiến giả cia minh lịch sử dân hùng ag đẹp văn hoá của người Việt và hiện thục của cuộc sống với những SỐ phận con người chịu sự va đặp của ich sử: “Vit vẻ lịch sử nhưng Nguyễn “Xuân Khánh không nhẫm mục địch phân ảnh lịch sử mã lich sử chỉ ái cổ đỂ nhà văn ni chuyện đời, chuyện xã hội” [S0, tr 52). Con người rong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không ph chỉ của một thời đại mà của mọi thải Song ông không đưa vào đổ cái nhị tiêu cục hay tuyệt dBi hoa với những vẫn để xẫu - 1, den - tng, địch ta, vv.
main tte bing thi độ nhân bản và khoan dụng, Nha vn về với ôi viết đại tự sự gẵn với tuyễn thẳng, với đ ti quen thuộc của vấn chương ruyễn thốn là lch sử, Rhine " chiến chẳng Phip, ching MM cải cách mộng đất, thời kì ho bình, v.v, Dấu ấn của ỗi viết tyễn thống thể hiện rõ nết ở bộ ba tiểu huyết này của Nguyễn Xuân Khánh nhưng đi được "lâm mái” trong cách tr duy Ha đến những "lạ ha” trong kí thuật viết Nếu việc "lầm mới" ư duy tiểu tuyết tuyển thông dem lạ thành sông về mặt nội dụng thí những "lạ ha” trong k thuật viết chính à hình thức gp phần tạo nên ứ ảnh công tong tiêu thuyết Nguyễn Xuân Khánh. “Chúng ta đu biết khi nổi đếný nghĩa của hình thúc nghệ thuật, điều đầu tiến thường được nhắc đn đô là hình thức phụ giúp nội đụng Từ xưa, Không Tử đã nói “Ngôn chỉ vô văn, hành nh bắt viễn (Lời không văn vẻ, Xhông đi được x3). Trong Văn Tôm Điều Jong, Lưu Hiệp cũng viếc “Sách và lời của thánh nhân dễu gọi ăn chương, không văn về sao được? Nước tỉnh lông tì kết thành gơn sóng. Cây tĩnh chắc thì nữ được hoa, đồ à văn phụ thuộc vào chấ Hỗ báo mà không có vẫn tỉ da vàng như của chỗ de con lê cơn chủy có du cứng, nhưng mẫu da nổ phẩ sơn đó, đó Hà chất nhời văn vậy” [dẫn heo 37, 6S 66].
đây vai tô của hình th là lâm nỗi bật lâm đẹp nội dụng. Đương thôi và cho dến hiện nay, chủ nghĩa hình thức Nga vẫn thường bị hiểu là một khuynh hướng nghiên cứu í sinh nội dụng chờ hình thức, bì sinh tính th cho ngôn ng, bi sinh tư trởng cho nghệ thuật Trên thực tế, điều mà các nhà hình thức chủ nghĩ đi ìm là âm cách nào để sâm nhận sâu sắc những quy hật nộ tại vàphổ quất của văn bọc Mle da chon i vig sẵn với myễn thông song Nguyễn Xuân Khánh in thúc được iệ in “a ha” tog That vit bi là Mhanh hướng ‘hung ea vn oe hu ign da “La hod” in đâu tiên được V, Siớlotdly + rộ thnh iên quan trong ci rig pi hin he Nga th lý XX db xuất Theo ông và shang ngubi cng nim, pi im ma ag ai oe gui quent in hin vi tướng a hos th ign mt te di 2 nghệ thuật, và ã nỗ lực xoá bồ sy non sot phương thức thễ hiện, mã trước tế là th giớt ngôn từ trong tác phẩm văn chương "Lạ ho ũng có tế là một cách phản ing với những quy phạm trong ác giai đoạn, cc trà lưu văn học mã tỉnh định vị quả lớn, khiến giới sing tá rơi vào công thức, dẫn đến hậu quả là gui dục vô cảm wong iếp nhận nghệ thuật "bởi vi thông thường son người nhận thức sự vật the thôi quen, đđ, hình ảnh vỀsự vật trong 7 nhận thức của chúng ta yêu dẫn tính hấp dẫn, ngược lạ, sự t nhận của sơn người về th giới cũng mắt dẫn tính năng động. Đổi với văn chương, đồ là một trở ngại, hơn nữ là một đề tối ki" [S4] `Với tu cách là một thủ pháp, “la hóa” thể hiện trên các bình diện như. ngôn ngơ, kế cẩu, điểm nhịn ân thật, cổt truyền, vi.
Trước Nguyễn Xuân Khinh, lạ hoi” thực sự cổ biểu hiện rõ rộ và có (hành tựu lớn rong nhiều Sáng tác của các nhà văn thời kì đổi mới với cc ên ôi như Phạm Thi Hod Nguyễn Huy Thiệp, Báo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hỗ Anh Thấi, và. Và với Nguyễn Xuân Khánh, "lạ hội" rung kĩ thuật iết mang máu sắc riêng, đúng như con người của mộ nhà văn từng ti Khối diễm của lạ hoá là ngôn tứ Việc m kiến một hình thúc fn dat msi cho lúc phẩm nghệ thuật càng là một nhủ cầu của bất kì nhà văn nào, ngay cả những người nghèo nàn nhất về chữ nghĩa, Có thé tim thấy võ sổ cách điễn ati dom, thâm sâu, hắp dẫn rong nhiều tiêu huyết, truyện ngắn đương đại "với cc hủ pháp so sánh,ví xơ, giỗu nại, nghịch ngữ. Đăng chủ l sưtim, kiểm cách thế hiện mới cho các iếu li văn tẫn thuật lời đổi thos, v9 tie là ác bình điện rất cơ bản của ngôn từ tiễu thuyết.