Chương 1: Sông Côn mùa lĩ của Nguyễn Mông Giác trong dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986. “Chương 2: Liên văn bản trong Sông Cổn mùa lĩ của Nguyễn Mộng Giác từ phương diện nội dung Chương 3: Liên văn bản trong Sông Cổn mùa lữ của Nguyễn Mộng Giác từ phương diện nghệ thuật CHUONG 1 SONG CON MUA LU CUA NGUYEN MONG GIAC TRONG DONG CHAY TIEU THUYET LICH SU VIET NAM SAU 1986 1. CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUAT CUA NGUYEN MONG GIAC 1.Nguyễn Mộng Giác ~ con người x Niu *thàng hậu” Nguyễn Mộng Giác sinh ngày 4 tháng 1 năm 1940 tại Xuân Hòa, huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, Bình Định). Thời kháng chiến chồng Pháp 1946 đến 1954, nhà văn học tiểu học và trung học tại vùng kháng chiến.
Sau Hiệp định Genve 1954, Nguyễn Mông Giác chuyển qua học trường Quốc gia và học lớp Đệ tứ tại trường trung học Cường Để, Quy Nhơn. Sau đó, ông vào học ở Võ Tánh, Nha Trang rồi học năm ct ï của bậc trung học tại trường Chu Van An, Sải Gòn. Đậu tú tải 2, Nguyễn Mộng Giác học một năm tại Đại học 'Văn Khoa Sài Gòn sau đó ra Huế học Đại học Sư phạm, ban Việt Hán. Năm 1963, sau khi tốt nghiệp, ông dạy học tại trường Đồng Khánh, Huế hai niên khóa rồi đổi vào Qui Nhơn làm hiệu trưởng trường Cường Để, rồi làm Chánh Sở Học chánh tỉnh Bình Định cho đến năm 1974 thì vào Sài Gòn làm chuyên.
viên nghiên cứu giáo dục tại Bộ Giáo dục (thuộc chính qu Sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư, ngày 2 tháng 7 năm. 2012, Nguyễn Mông cqua đời tại nhà riêng ở Mĩ. Cuộc đời của Nguyễn Mộng Giác gắn liền với những cuộc dịch chuyển không ngừng giữa Bình Định - Huế - Sài Gòn. Xê dịch nhiễu, có điều kiện tiếp xúc với nhiều môi trường đời sống cũng như nhiều tằng lớp người nhưng.
Nguyễn Mông Giác vẫn luôn giữ được sự chin chu, mực thước, thư thái. Trong mắt của đồng nghiệp, Nguyễn Mộng. iác "lành đến phát ngại lên được (Lê Minh Hà), là “một người ít nói, thâm trằm, từ tốn đúng vẻ con nhà mô. Đó là một con người như chính nhà văn tự nhận :ồn nhút nhát, vụng về trong giao tế, phản ứng chậm trước các thử thách.
Mỗi lần bị hãm hại hoặc bị chửi bới, đĩ nhiên phản ứng. tiên là giận dữ. 'GGiận đến líu lưỡi nói cà lãm nên không thể trả miếng ngay người chửi mình. “Chờ cho hết cả Lim, thi edi tinh nhút nhát thụ động lại chỉ phối” [25, tr212], Nguyễn Mộng Giác, nói như Võ Phiến, là nhà văn, người con của “xứ Nẫu, thing hậu”.
Ông “hiền hậu, thực thà, hiển hiện ra bên ngoài, trông rð mồn. một” [87], là “con người thàng hậu vốn dẻ dặt, kín đáo, âm thằm trong sự sằu dau thương nhớ. Phẩm chất này sẽ là một cơ sở khẳng định sự "vượt thoát khỏi cá tính” của Nguyễn Mông Giác trong văn chương, đặc biệt ở thể loại tiểu thuyết lịch sử. Hành trình sáng tạo nghệ thuật~ một *giấc mộng” dai bị đứt quảng Nha van P.Antokolxky đã từng phát biểu: "4 'ũng như trong bắt kỳ một lãnh vực nào, cái quan trọng nhất trong nghệ thuật là quá trình, là sự hình thành, là cuộc đầu tranh, là sự tìm tôi, là một đông nước không bao giờ cạn tự khơi lấy một dòng sông” [37, tr.
Điều này cho thấy, sự nghiệp văn chương của mỗi nhà văn là một hành trình mà mỗi tác phẩm chỉ là một sự. kiện, một mắt xích, một cột mốc trong hành trình đó. Đã gọi là nghiệp duyên. với con chữ; sẽ có người đến sớm đến muộn; sẽ có người nhẹ thênh như cuộc.
dao choi git đời, nhưng cũng có người nặng bước ưu tư canh cánh "một mối sầu thiên cổ”; sẽ có người may mắn “nắm tay" chữ nghĩa đi một hơi liền mạch đến cuối cuộc đời, lại có người không thể "xuôi chèo mát mái” trong bước đường đến với nghệ thuật. Hành trình sáng tạo của Nguyễn Mộng Giác cũng không “xuôi chèo mát mái”, đó là một "giác mộng” đài bị đứt quảng. Từ đặc san tốt nghiệp Gìn vàng giữ ngọc của trường Đại học Sư phạm Huế, khóa 10 Nguyễn Du (1963), Nguyễn Mộng Giác đã âm thầm làm việc và khẳng định mình bằng hai bài viết là Mói chuyện trong đêm và Bóng tồi với hai bút hiệu Mộng Nguyễn và Nguyễn Văn. Bóng dáng của tác giả Sông Cón mùa lữ bắt đầu hiện hữu qua “những chuyện nhỏ nhặt có tính đời thường ở nhà trọ, ở.
trường học đã trở nên hấp dẫn qua lối viết dung dị mà sâu sắc của anh”[77]. Những năm 70 của thế kỉ trước, văn đàn ghi nhận tên tuổi Nguyễn Mộng Giác qua các bài viết đăng trên tạp chí 8ách Khoa, gồm năm tác phẩm: Nỗi. băn khoăn của Kim Dung (tiêu luận, 1972), Bão rới (truyện ngắn, 1973), Tiếng chim vườn cũ (truyện dài, 1973), Qua câu gió bay (truyện dài, 1974), Đường một chiều (hay Bóng thuyền say ~ truyện dài, 1974). Tác phẩm đầu tay của Nguyễn Mộng Giác không phải là tiểu thuyết mà là một tập tiểu luận về truyện chưởng Kim Dung.
Đây được xem là “cuốn tiểu luận mông in dn lem nhem nhưng lại là tác phẩm mang đến cho tôi nhiều vui buồn nhất” [25. Các truyện ngắn Bão Rét (1973), truyện dài Tiếng chím vườn cũ (1973), truyện đài Qua cau gió bay (1974) đều có khuynh hướng bám sát hiện thực chiến tranh. Đặc biệt, tác phẩm Đưởng một chiêu “sáng tac rat công phu. Say sưa mà vẫn thận trọng, đầy cảm hứng mà vẫn tiết chế, cô đọng bằng một kĩ thuật cao và khéo léo, nội dung chứa nhiều ý tưởng phong phú mà hình thức vẫn gọn gàng lôi cuốn” [78].
Giá trị của truyện dài này đã được khẳng. định bằng giải thưởng của Trưng tâm Văn Bút Việt Nam năm 1974. Có thể thấy, mỗi truyện của nhà văn “thường đặt ra cho người đọc những câu hỏi, tác giả không tra Idi, chính mỗi người cl ing ta, nếu chúng ta là những độc giả không ngại phải băn khoăn suy nghĩ khi đọc sách thì chính mỗi người trong, chúng ta sẽ tự tìm thấy câu trả lời riêng cho mình”[78] Sau khoảng bốn năm ngừng viết, Nguyễn Mộng Giác bắt nhịp lại với văn chương vào năm 1977. Từ đó đến 1981, nhà văn cho ra dời bộ trường, thiên tiểu thuyết Sóng Côn mùa lũ, được nhà xuất bản An Tiêm in ở hải ngoại " vào năm 1991.
Đến năm 1998, tác phẩm đã “hồi hương” về với độc giả quê nhà qua bản in của nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học nhờ sự nỗ lực giới thiệu của giáo sư Mai Qu¿ Liên. Những năm sau đó, Nguyễn Mộng Giác có thêm 2 tập truyện ngắn Ngựơ nán chân bon (1984) và Xudi dàng (1987). Tuy vậy, ông vẫn là người của đường đài, của những bộ trường thiên. Bộ tiểu thuyết thứ hai Afùz biển động gồm năm tập, tập I (Những đợt sóng ngầm) “phương phi” ở Nam Dương 1982, các tập II (Bảo nổi), III (Mùa biển động), IV (Bèo Giạt), V (Tha hương) lần lượt được viết vào những năm 1985, 1986, 1988, 1989.
Theo đánh giá của Thụy Khuê, đây là “một trong những bộ trường thiên tiêu thuyết hoàn chỉnh nhất trong văn học Việt Nam trong nhiều thập niên qua, tác phẩm bao trùm được cả cái vi mô lẫn cái vĩ mô, tái tạo không khí xã hội và tâm lý người dân miền Nam trong suốt thời kỳ 20 năm” [81]. Bên cạnh hai tác phẩm Sóng Côn mùa lữ và 'Mùa biển động đã khẳng định được tên tuổi Nguyễn Mộng Giác trong thể loại trường thiên tiểu thuyết, nhà văn còn có một tập tiểu luận Aghf vẻ Văn học hải ngoại (2003), một tạp luận Bạn Van, mét thuở (2005). Hành trình sáng tạo của Nguyễn Mộng Giác chim dit vio năm 2004. Những tác phẩm chưa xuất bản như Tình và đạo trong thơ Hàn Mặc Từ (tiễu luận), Đêm hoang (truyện đài), Ấây bay về đâu (truyện dài).
hi vọng sẽ đến tay bạn đọc một ngày không xa. Như vậy, nếu “sáng tạo là quá trình vượt thoát khỏi cá tính” (Mai Văn Phin), thi với các tác phẩm bao gồm nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, truyện dải, tiểu luận, tạp luận, tiêu thuyết. Nguyễn Mộng Giác đã thật sự thành công khi vượt thoát khỏi b ngoài mực thước, thâm trầm, bản tính nhút nhát, vụng về trước đám đông để tái hiện những biến thiên xã hội thời ly loạn với cảm hứng nhân đạo; trực tiếp hoặc gián tiếp bộc lộ niềm say mê với dòng chảy lịch sử với cái nhìn đầy tính bi kịch. Dẫu rằng ông có tự thấy nhiều 12 khiếm khuyết về mặt kĩ thuật, nhiều chỗ hở, chỗ vụng, nên “cảm thấy không bằng lòng với tác phẩm” thì độc giả vẫn ghi nhận nhà văn như một tiểu thuyết gia lịch sử của dat vo Tay Son.2, QUAN NIEM NGHE THUAT CUA NGUYEN MONG GIAC 1.Quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn.
Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tắt cả những gì bí ấn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng. Trước 1986, con người trong tiểu thuyết được nhìn nhận ở góc độ con người xã hội gắn với thời đại, công đồng. Cũng có con người cá nhân, nhưng. cá nhân gắn với vấn đề đạo đức nhân cách được đặt trong mối quan hệ với lich sir, tinh thế sự chưa đậm nét.
Mọi vấn đề về con người phần lớn vẫn còn quy chiếu trong tương quan với chiến tranh cách mạng. Từ sau 1986, với công cuộc đổi mới xã hội, các nhà văn Việt Nam có sự thay đổi về tư duy nghệ thuật trong việc tiếp cận với hiện thực đời sống con người. có cơ hội nhìn lại, làm mới quan niệm nghệ thuật về con người theo một trường thẩm mĩ mới phủ hợp với nhu cầu tiếp nhận văn học. Con người trong.
văn học thời kỳ Đổi mới được các nhà văn quan niệm không còn đơn giản, xuôi chiều, thay vào đó, nhà văn nhìn con người ở nhiều thang bậc giá trị, ở những tọa độ ứng xử khác nhau, chân thực và toàn diện hơn. Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Mộng Giác cũng nằm trong sự thay đổi đó. Từ những kinh nghiệm trong cuộc sống, Nguyễn Mộng Giác cho rằng. không có người xấu, chỉ có người đáng thương, "qua hai bộ trường thiên và tập truyện ngắn Xwói Dỏng, các bạn sẽ thấy tôi nhìn đời không tốt, không xấu, nó tự nhiên như vậy.
Con người chỉ có hai loại, con người đáng yêu và con 13 người đáng thương” [75].