mở đầu thời kỳ hàn bình lập lại Hiế hệ thanh niền miễn HẢc theo tổng goi của những Dan cé, Paven “Caotaghin mang sử mệnh cao đẹp đi đến những vùng thỏ khẩn nhát của đt nước. “Sống nhiệt thành, lu dân tộc bùng lên, đã như viên đơn thẳng đầu, là tâm tế của cả một ti hệ. Năm 1960, Đỉnh Trong Đoàn được cử về học ti trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Lúc đó, ông đang là hiệu tưởng trường cắp I Lào Cai. VỀ Hà Nội, ông được gặp gỡ nhiều tả cổ, bạn bề dếp xúc với nhiều trí thức và ông đã không gig hoe hoi, tau di kinh nghiệm.
Kết thúc khóa học, Dĩnh Trọng Đoàn hại trở é ảo Cai tiếp tục công tác với cương vị mới là phó tổng biên lập báo Đăng bộ [Lio Cai. Sau đó là làm thư ký cho bạn Bí thư Tỉnh uy Lao Cai. Đến năm 1974, đông tr thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Trong một lần đi công tie ở vùng nông thôn, Đình Trọng Đoàn làm qạuến với ông Ma Văn Nho.
Mỗi quan bệ thân thiết giữa hai người được nhà văn XẺ hi như sa: *Cớ những lấn ti bị ẩm nõng, anh Nho êm thuốc, rò đo lội sudi công tôi đi. Rồi chúng tôi kết nghĩa anh em và tôi lẫy họ Ma của anh ghép. tảo tới tên nình thành Ma Văn Kháng ” (61, r. 95} `Với một thời gian gắn bồ với mảnh đắt Lào Cại khá dài, Ma Văn Kháng, đit cảm nhận một cách nh tẾ cuộc sống của người dân nơi đây, Dẫn dần nhà văn cảng khám phá ra những vẻ đẹp riéng t độc đáo của con người và thiên nhiên ở min sơn cước này, Những vẻ đẹp hồn nhiên, thơ mông dường như lúc nào cũng iện lên lung lính trước mắt ông, khiển ông không thể không cầm bút.
Và những trang văn đầu tiên vỀ mảnh đắt mã ông xem như quê hương thứ hai của mình đã đến với độc gi. Sự thành công của ông là kết quả của quá rình lao động cần cũ, chịu khô trong cuộc sống cũng nh trong lo động nghệ thuật. Ma Văn Khẩng đã Juin muốn mình phải vận động, vật lộn với cuộc sống để cắt nghĩa hiện tượng và tìm ra chân lý, Những gỉ ông tùng ri, từng thấy, từng cảm nhận, khi đi vào trang văn cũng sôi động như chính cuộc đồi thực của nó vây Năm 196, sau kh nước nhà thống nhất, Ma Văn Kháng rời Lào Cai để uo VỀ Hà Nội và hoạt động như một nhà văn chuyên nghiệp. Từ đầy, sáng tác của "Ma Văn Kháng nở rộ, những gì ông nung nắu, ấp ủ bấy âu nay được trải đãi trên những trang văn, các tác phẩm ra đời nhanh chóng như một tắt yếu của cuộc sống.
Tuy nhiên, những năm đầu sau khi trở vẻ Hà Nội, đề tải Ma Văn Kháng phân ánh ào trong tác phẩm vẫn là cuộc sống và con người miễn núi. Có thể nói, đây là giả đoạn chiêm nghiệm, là sự hồi tỉnh của ềm thức, nó tôi thúc nhà văn phải vết và vế bằng ắtcảsự ải nghiệm về cuộc đồi. ‘Vide iu, viết khóc và được bạn đọc đón nhận ở cá bai th loại tiếu huyết và truyện ngắn, Từ khi bước vào nghề văn cho đến nay, Ma Văn Kháng đã có sần năm mươi năm cẳm bút. Cùng với thời gian, cá c tác phẩm của ông ra đời đã để hi cho độc giả những ấn tượng thật khó quên.
Sư nghiệp văn chương của ông được đánh dẫu bằng tuyên ngắn đầu tay mang tên Phổ cụt (1961) và tễu thuyết dầu ty in năm 1916, nhưng ông bộc bạch rằng: "tự coi lồ quớ được lệ tập dượt là từ những năm 80" 16,206, Bởi vậy, sau những năm 80, nhiều tắc phẩm có giá tị lẫn lượt ra đời và Ma Văn Kháng đã dẫn khẳng định được vị tí của mình trên ăn đàn cũng như rong lông người đọc. “rong thé ti iu thuyét, mt thé ti vin xuôi được Ma Văn Kháng đặc bit lu âm tích lũy, được đánh đấu với “la con tinh thin đẫu Kg” 18 Gid rene Nhìn một cách bao quất, sự nghiệp sing the cia Ma Van Khẩng c thể chín thành bai gi đoạn, trước và sau những năm đầu của thập niên 80. Tuy nhí mời sự phân chỉa ở đây cũng chỉ mang inh tuong đối. Và ở mỗi giải đoạn, ông đều có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà và để li dẫu ấn khó quên trong lòng người đọc “Trong giai đoạn đầu, tu thuyết của Ma Văn Kháng tập trung viết về để tài tmiễn núi, Nhìn chung, ở giai đoạn này, tễu (huyết của ông còn mang Khuynh hướng sử th rt 18, nhưng ông đã có đồng góp thực sự cho mảng văn học viết về Giải đoạn sau, có thể xem Mua mia hg (1982) nhu li một dẫu mốc đánh dấu bước chuyển rong đời văn Ma Văn Kháng.
Lúc này, du thuyết của ông đã số sự thay đổi rõ rệt về đề ti, t duy nghệ thuật, đó là những tiêu thuyết hướng, về đồi sống của người đân tảnh thị đương thời với những mặt tích eve, iều eve gia nó Qua từng chặng đường sáng tác, chúng ta có thể thấy rõ sự vận động của. tiêu thuyết Ma Văn Kháng vỀ quan niệm, cảm hứng nghệ thuật và bút pháp nghệ thuật Viết về cuộc sống của đồng bảo dân tộc vùng cao trong suỗi nguồn cảm hứng ử tỉ sòn kéo dài su chiến tranh, ngòi bút iu thuyết Ma Văn Khẩng đã đạt được thành tu trên nhiễu phương diện. Do chịu ảnh hưởng của khuynh hướng văn học ử th, phẫn lớn nhãn vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được soi chiế từ óc nhì chính tr xa hội, cái nhìn con người thiên Š lỗi tư duy nhị phân rạch rồi Cũng có những dấu hiệu của sư thay đổi rong quan niềm nghệ thật về con người, đ là việc tác giả đem tỉnh yêu gắn với cảm xúc nhục thể vào tang vi, song chúng kiến sự đỗi thay thực sự tong tr duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng thì phải đợi đến chẳng thứ bai rong quả tình sáng tắc của ông. Hành trình săng ạo ẫu thuyết của Ma Văn Kháng qua hệ đti 1121.
ĐỀ ti đân tộc và miễn múi Nhìn vào thực tế hoạt động văn chương cho thấy, thường thì mỗi một nhà văn đều chọn cho mình một vùng đất thích hợp với sở trường để làm nơi “gieo. mắm" văn chương, phát triển sự nghiệp. Nguyễn Quang Sáng thì có duyên với vũng sông nước Nam Bộ, nét hùng vĩ của núi rừng Tây Nguyên đã là đặc điểm quen thuộc trong những tác phẩm của Nguyên Ngọc, Tô Hoài lạ lên Tây Bắc. (Cn Ma Van Kháng, đến với văn chương, ông chọn cho mình vùng miỄn núi cao, cu thé à mảnh đất Lâo Cai, mảnh đất có nhiều dân tộc anh em sinh sống làm nơi ico mim sing tao.
‘Ma Van Khing không phải là người đầu tiên kha thác cuộc sống và com người nơi biên giới, bởi tước đó đã có Tô Hoài, ThE Li, Lan Khai. Chấp nhận thực tế Ấy và nhận ra sẽ có không ít khó khăn, nhưng bản chất của văn chương là sáng tao, không thể giẫm lên dấu chân của người đi trước. Gắn bó với vùng đất Ấy khá đãi nên “Ma Vấn Kháng không dừng ở cái nhìn quen thuộc gói gon trong quan diém giai cấp", mà ông chủ ý nhiều đến "đời sống con người và xã lội vùng biên ái gắn chặt với mội trình độ văn hỏa, một giới hạn văn minh”, bởi một lẽ “Thể giới ở thời mới khai thiên là nơi ngự trị của cái hoang sơ rừng ri. Vo khối con người ở đáy không ý thức được hành ví của mình”.
Và với hơn hai mươi năm cần củ tích lũy tư liệu, vốn sống, Ma Văn Kháng đã có những tác phẩm tiêu biểu như. Tuy chưa phải là nhà văn viết về miỄn nú hay nhất, nhưng những tác phẩm của ông đã "lâm ống lại bức tranh đời sẵng hiện thực mang tỉnh chất sử tỉ về con đường của các dn tộc miễn núi phía bắc làm cuộc đãi đời, đi theo cách mạng mà rừng người lao động lương thiện giữ gìn và phát hưy được phẩm cách của mình, mỗi công đẳng dn tộc từng bước tiễn đến ấm no, hạnh phúc và văn mink” (28, 10). Gió rừng là nét phác thào về cuộc sống của đồng bào Dao đó, ở xã Chin “San đang trong thời kì thục hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, kết hợp với hoàn thành cải cách. Còn Trăng nam, như chính tác giả đã thú nhận, nó là “một ôm trời cổ ích”.
Miu tả công cuộc xây dựng một vùng kính tế mới lên sản xuất lớn, một cuộc sống đẩy gian lao, vất và nhưng có sức hút mãnh liệt đối với những khát khao của bao kiếp người bao đời khốn khô, có sửc lay động những tâm hỗn u mê và thức nh cả những kẻ lắm đường lạc ỗi của người dân Xã Hồ. Trong cuộc chiến anh bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, tong gian khổ của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, miỄnnú và miỄn xui đã sắt cính cùng nhau, kiên the hiện lí tưởng độc âp, tư do, bình đẳng, bắc i và nhân văn. Những tác phẩm của Ma Văn Kháng ra đời nỗi tiếp nhau như để In sáng ên bức tranh lịch sử - sử hội hảo hùng, bí răng của một vàng miễn núi pha Tẩy Bắc nước la trọn một mửa thể ký, từ những năm đẳu của cuộc kháng chiến chồng Pháp đến thời kỉ xáy đơng tong hỏa Bình vỗ chẳng Mỹ cứu nước" [3E, tr 11], Đằng bạc trắng hoa -xde và Vũng Biên ái cô thể xem như một bộ iễu thuyết liên hoàn hai ấp, phản ánh mộ cách sinh động hiện thực ịch sử đi sống của đồng bào dân tộc Lào Cai tong bỗi cảnh đêm trước cách mang và trong những năm kháng chiến. Đến đặp, {80-0 La Pan TÂn một cầu chuyện Về người thẳy giáo Thiêm tận tuy, hỗt lòng cho sự nghiệp khai sáng bộ tộc Mèo La Pa Tin thi béi cảnh câu chuyện chủ yếu vẫn là suộe sống miễn núi.
Thể mới bi, miễn nú với Ma Văn Khíng như một duyên nợ ấy Viết về vũng đất biến ải đó, Ma Văn Khing cho ching ta thiy ring, cuse ng Ấy, những con người Ấy đáng hương biết chững nào. Tuy nhiền, những gỉ Xây ra rên những mảnh đất vũng cao dy không chỉ là thẳy mo, ma thật, thổ phi, không chỉ là những cam chíu, niềm in mù quáng; mà còn là ình ảnh của những. son người lao động và chiến đấu dũng cảm bền cạnh người Kinh.