Chương 1: Khái lược quá trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 và sự xuất hiện của Thái Bá Lợi “Chương 2: Người ké chuyện và quá trình kiến tạo mạch tự sự trong tiểu thuyết Thái Bá Lợi “Chương 3: Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết Thái Bá Lợi CHUONG 1 KHÁI LƯỢC QUÁ TRÌNH ĐÔI MỚI TIỂU THUYET VIET NAM SAU 1975 VA SU XUAT HIEN CUA THAI BA LOL Trong bồi cảnh đầy biến động của kinh tế xã hội lẫn văn chương nghệ thuật, sau 1975, nền văn học nước nhà xuất hiện những rế” mới với “động năng” mạnh mẽ, bên cạnh “dòng chảy” cũ với cảm hứng truyền thống. của văn chương kháng chiến. Giữa dư chấn của cái cữ và hấp lực của cái mới, giữa lối ngả của truyền thống và hiện đại, người nghệ sĩ muốn tổn tại, buộc. phải chọn cho mình những hướng đi phủ hợp, vừa để bắt nhịp với xu thể thời đại, vừa phóng thoát được năng lục thắm mĩ của mình.
Trong chiều hướng đó, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến hình thức nghệ thuật, bắt đầu bằng những cái tên nổi bật như Nguyễn Trọng Oanh, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Thái Bá Lợi. TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI VÀ NHỮNG QUAN NIỆM MỚI. Nếu cuối thế kỉ XIX, F.Nietzsche tuyên bố ''Thượng đế đã chết”, khiến hàng triệu người hốt hoảng trước sự sụp đổ của “lòng tin” vào thế giới quan siêu hình cùng toàn thể hệ thống giá trị (nhất là các giá trị luân lí) đã được chấp nhận trong văn hoá, tôn giáo thì đến cuối thế ki XX, S. khẳng định “hư vô” mới là nguồn gốc của vũ trụ (xuất phát từ lí thuyết “vụ nỗ.
Cũng thế, nếu M.Kundera đã từng viết “giấy báo tử” cho tiểu thuyết ở mấy thập ni trước, thì đến những năm đầu của thiên niên ki mới này, với sự phát trí vượt bậc của “công nghệ số „ tiểu thuyết được chế tác. và lưu trữ một cách phức tạp chẳng khác nào những tệp “dữ liệu nhị phân” Vậy là chẳng có “cái chết" nào cả, từ “Thượng đế siêu hình" (God) đến *Thượng để trên văn bản” (Author)! Tắt cả chỉ là "sự hoài nghỉ” tuyệt đối trong tính tương đối. Thượng đề, cho đến lúc này, là thực thể hữu hình hay vô. hình người ta cũng chưa chắc chắn, còn tiểu thuyết thì không “chết mòn” như.
10 người ta đã thấy nó “hấp hồi” từ hồi giữa thế ki trước. Tiểu thuyết - với tư cách là "hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” [20, tr.184], có một sức sống mãnh liệt, bằng cách này hay cách khác, nó luôn tìm được sự thích nghỉ với thế giới. Bởi, trong quá trình “nảy nở”, “sinh sôi” của các thể loại văn học. từ trước đến này, tiểu thuyết vẫn được được xem là thứ “sinh sau đẻ muộn” nhưng lại luôn nhận được sự “chăm sóc kĩ lưỡng” từ các ''Thượng để trên văn bản” và “ngay cả trong buổi hoàng hôn cuối cùng đỏ rực và ết chóc.
vẫn còn một âm thanh: đó là tiếng nói yếu ớt, không biết mệt mỏi của con người vẫn tiếp tục trò chuyện” (W.Faulkner- diễn từ Nobel 1950), Không nói quá, tiểu thuyết có thể xem là *] ảnh của Thời Hiện Đại”, nó sẽ và luôn tôn tại song hành với hiện thực khách quan, dé cat lên tiếng nói của chân lý cuộc sống và bản ngã con người. Tiểu thuyết “khủng hoảng”, hay bên “bờ vực của sự sụp đổ”, chỉ là những cách nói tương đối , ie ngui ta “hoang mang” trước một số trào lưu đổi mới quá táo bạo nhưng ngắn ngủi trên thế giới, ở thế kỉ trước. Đặc biệt là khi giá trị (nghệ thuật) của nó được. dong đếm bằng tiền bạc và bị “làm giá” trước “cơn bão” kinh tế thị trường - vốn là một đặc trưng cơ bản của xã hội Thời Hiện Đại.
Độc giả thờ ơ với tiểu thuyết vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, nhưng khác với “chu trình tự. hủy”, chính sự thờ ơ đó lại trở thành “động năng” cho quá trình vận động và phát triển của nó. Tựu chung, lúc này, số phận tiểu thuyết đang chịu sự chỉ phối của nhiều nhân tố, và nhịp chảy của Thời Hiện Đại đang “hối thúc” nó. phải tự “chuyển mình”, phải tham gia vao quá trình thừa kế những khám phá, điều mà M.Kundera gọi là “lịch sử tiểu thuyết”.
'Và thực tế, thể loại tiểu thuyết đã và đang bước vào giai đoạn “chuyển mình” với rất nhiều thể nghiệm cùng khát vọng vươn lên phù hợp với quy luật cuộc đời, quy luật nghệ thuật. Nó, một mặt, muốn phủ nhận cái lỗi thời, phản đối sự đồng nhất văn chương với hình ảnh của thế giới thông tin đại chúng, " mặt khác, lại muốn chiếm lĩnh một “chân trời mới”, không đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ mà lấy đó làm nền tảng để đi sâu và vươn xa, thâm nhập vào cõi vô thức bên trong tâm hồn con người Thời Hiện Đại Trong bồi cảnh đó, tiều thuyết đã hiện diện trong đời sống nhân loại với “giao diện” sống động và nhiều quan niệm mới mẻ. Tiểu thuyết - như là “sự viết tiếp những văn bản hiện tồn” Có thể nói, từ nửa đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết hiện đại đã vượt qua những. giới hạn của quan niệm (về chính nó), cơ hồ, khiến cấu trúc thể loại trở nên.
tương đối và bắt định. Lúc này, ý niệm về tác phẩm văn chương là sự sáng tạo. duy nhất, là một “Hy Mã Lạp Sơn” - đỉnh cao trong cô độc - đã trở nên “chật chội” và không thể bao quát được hết giới hạn của cấu trúc tự sự và quá trình. vận động của tiểu thuyết.
Thay vào đó, nhiều học giả cho rằng, tiểu thuyết (và các thể loại hư cấu khác) chỉ là sự “viết tiếp” hoặc “vie chồng” những văn bản hiện rổn (dasein - chữ của M. Đó là những đấm đø thuộc Palimpsest, noi nhà văn có thể đọc lại quá khứ đã bị “bôi xóa” và khắc lên nó những dòng tiếp theo của hiện tại. GGenette - nhà lý luận phê bình có tằm ảnh hưởng lớn trong văn học Pháp hiện đại cũng như trên thế giới - với công trình Palimpsests: literature in the Second Degree, đã đặt ra vin đề xem xét “mỗi quan hệ” giữa một văn. 'bản mới với các văn bản tồn tại trước đó.
Palimpses:s vốn là một loại văn bản. (cỗ) được viết trên giấy da, ở đó, chữ viết gốc được cạo đi để tạo không gian cho chữ viết mới. Chính cái quá trình "cạo cũ” rồi "viết mới” đó đã trở thành một biểu tượng cho sự tổn tại và “tái sinh” của văn bản. Nghĩa là, không có văn bản "độc nhất” nào, bởi chính nó, có thể đã được tao ra tir tan dư của vô.
số các văn bản trước đó. Văn bản sau "viết đẻ" lên văn bản tước. Văn bản mới này là “văn chương ở độ hai. Nó nhất thiết mang những vết tích của văn bản trước đó.
Đồng nghĩa với ý niệm: mọi văn bản đều là iên văn bán. Lấy 12 hinh anh Palimpsest, G.Genette muốn nói đến nguồn gốc và dạng thức tồn tại của văn bản, như là những mắt xích tạm thời trong cái mạng lưới vô tận lién văn bản. Trong công trình này, Genette cũng đã thể hiện những kiến thức vài quan niệm của mình về bản chất của diễn ngôn trần thuật, đi từ cấu trúc luận đến liên văn bản, như một sự đột phá trong hệ hình lí thuyết 7t sự học. tập trung phân tích khái niệm zhượng văn bản (hypertextuality), mà theo đó.
nó liên quan đến "mọi mối quan hệ cấu thành nên văn bản B (mà tôi sẽ gọi là văn bản (rên/ hypertext) đến một văn bản trước đó là A (tất nhiên, tôi gọi nó. là vấn bản dưới/ hypotext), dựa trên đó nó dược lắp ghép lại theo một cách thức không phải của một bài tường thuật” [96, tr. Khái niệm ¿hượng văn bản cia G.Genette là một bộ phận của khái niệm lớn hơn, bao trùm mà ông. gọi là xuyên văn bán (transtextuality), hiểu một cách ngắn gọn là tính siêu việt trong văn bản, bao gồm các yếu tố mô phỏng, biển đổi, và tập hợp các kiểu.
Với diễn giải của G.Genette, xuyên văn bản là "tắt cả những thứ đặt tác phẩm trong mối liên hệ, rõ ràng hoặc ẩn tàng, với những văn bản khác” [96, tr83-84]. Theo đó, tác phẩm văn học không có điểm khởi đầu, không có kết thúc, mà nó chỉ là một “điểm cắt vật chất” trên giao lộ thông tin, và tuỳ theo con đường tiếp nhận của độc giả mà chúng sẽ được xác lập những giá trị mới, có thể đương đồng (với giá trị tự thân) hoặc đj biế:.Genette với biểu tượng tắm da thuộc Palimpses:, R.Barthes cho rằng: “mỗi văn bản đều là một tẩm iụa, được đệt từ vô số trung tâm văn hóa khác nhau, (.) một không gian da chiều kích mà ý nghĩa là không thể tính đếm. Văn bản không bao giờ tổn tại độc lập, tự trị mà là sản phẩm của vô số những mã, những diễn ngôn và văn bản trước đó được chồng xếp, kết nối, chuyển hoán, tương tác” [dẫn theo, 82]. Như thế, phẩm chất của một tác phẩm văn chương, hiện đại là sự kết nối vô tận với văn bản đã hiện tồn, nó “di xuyên” không, gian và thời gian, để trong từng ký hiệu ngôn ngữ, từng tín hiệu thẩm mĩ, từng 13 “mã” (code) nghệ thuật đều có khả năng đào sâu đến tầng via ký ức của nhân loại.Borges đã viết trong tác phẩm Cuốn sách cát: “Đường kẻ được tạo thành bởi vô số các điểm, mặt phẳng được tạo thành bởi vô số đường kẻ, cuốn sách được tạo thành bởi nhiều vô kế các mặt phẳng, siêu cuốn sách lại được tạo thành bởi nhiều vô kể các cuồn sich”, ‘Thue chất, trong nỗ lực đổi mới tiểu thuyết trên toàn thế giới ở thể ki XXX, tự thân nó đã hàm chứa khả năng của một "siêu văn bản”, Các tác giả đã khai thác các lối viết thiên về kỹ xảo tự sự, đẩy người đọc vào một cuộc “phưu lưu rối rắm” trong mê lộ của cốt truyện đứt gãy, siêu thực, huyền ảo, dồn nén, giới han, lap lửng.
Trong cái “mê lộ trần thuật” đó, độc giả phải tự. mình chọn lấy một điểm nhìn, một sự lý giải tương đối kha di cho moi phi ly, khó hiểu, dở dang của câu chuyện, nhưng rồi, đi liền với đó là một cảm giác băn khoăn, bối rối, thiếu tin tưởng. Quá trình đọc tiểu thuyết không chỉ dừng. lại ở việc giải trí, mà thực chất, là quá trình “viết lại tác phẩm” theo quan điểm của mỗi người.
Đến với tác phẩm như thế, người đọc có thể không cần đi hết câu chuyện, mà ở bắt cứ đoạn nào, họ dừng lại và đi theo các “đường. dẫn kết nối” để bước vào mạng lưới văn bản phức tạp khác.